Chỉ còn hai tháng nữa là hết năm 2009 với một thị trường âm nhạc Việt Nam vẫn đầy bất cập. Nổi bật nhất là tràn ngập những bài hát “copy” giai điệu và dịch lời Việt từ ca khúc của các nhóm nhạc thần tượng nước ngoài.
 |
|
Bảo Thy - Ca sĩ thường tự viết lời và trình diễn các ca khúc nhạc ngoại lời Việt. Ảnh: nld.com.vn |
Dòng “nhạc teen” dành cho tuổi mới lớn nổi lên cuối năm 2007 đầu 2008 trên thị trường âm nhạc Việt Nam được coi như là một trào lưu tích cực góp phần đưa thị hiếu giới trẻ khỏi loại nhạc “sốc” ca từ dung tục, tự nhiên chủ nghĩa. Thế nhưng từ cuối năm 2008, “nhạc teen” đã bị lạm dụng biến trở thành “nhạc nhảm”. Thị trường âm nhạc Việt Nam 2009 lại xuất hiện trào lưu: “Việt hóa” các ca khúc của các nhóm nhạc, ca sĩ thần tượng nước ngoài đang được giới trẻ yêu thích - chủ yếu là ngôi sao Hàn Quốc, Đài Loan, Anh, Mỹ. Sự “copy” xuất phát từ một thực tế: ca khúc mau chóng trở thành “hit” (được nghe nhiều nhất trên các trang web âm nhạc hay sóng phát thanh truyền hình), bởi các ca khúc nước ngoài luôn phong phú và sáng tạo trong hòa âm phối khí. Có lẽ, vì những điều thuận tiện này, mà thị trường nhạc Việt nửa cuối năm 2009 hình thành hẳn một trào lưu được giới truyền thông gọi là “Tây hóa nhạc ta” đến nỗi trên nhiều diễn đàn âm nhạc chính nhiều người trẻ đang yêu cầu các ca sĩ trả lại sự trong sáng cho tiếng Việt, lẫn vẻ đẹp của các ca khúc... nước ngoài (!).
Phần lớn những ca khúc “Việt hóa nhạc ngoại” có ca từ dung tục “nửa nạc nửa mỡ”. Đơn cử như ca khúc “Hollaback girl” được “Việt hóa” thành ca khúc “Tình đã xa” với lời hát “Ngày nào bên nhau bao êm đềm thương đau bao kỷ niệm yêu thương... and now ta cùng bên nhau, đã xa không còn chi mà”; hay ca khúc “Buttons” nổi tiếng của nhóm Pussycat Dolls được “Công chúa bong bóng” Bảo Thy hát “Giọt nước mắt vẫn thấy cứ rơi. Tình kiếp đó sẽ mãi cuốn trôi. Lời hứa ngày đó I dont think you know” (“Lãng quên”). Phiên bản tiếng Việt của ca khúc “Because Im Stupid” được dịch thành “Khi yêu đâu ai biết trước nó sẽ ra sao... Baby I love you! Im waiting for you”. Cũng ca khúc này, một ca sĩ khác tự viết lời Việt thành “Nếu khi xưa anh không bận tâm bao lời nói... không là bạn thân để nói yêu em thì hôm nay I want crying for you, I want missing for you”. Một vài ví dụ cho thấy dù nhạc Việt đã cố tình mượn cái cốt lõi chuyên nghiệp của nhạc ngoại, thì vẫn không thoát khỏi sự nhảm nhí, dung tục xuất phát từ “căn bệnh” “ăn xổi ở thì”, làm ăn chụp giật mấy năm gần đây. Phải thừa nhận rằng kho nhạc Việt Nam vẫn có rất nhiều ca khúc nhạc ngoại lời Việt đi vào lòng công chúng như “Chuyện tình” (“Love story”), “Đồng xanh” (“Greenfield”), “Em dấu yêu” (“Unchained melody”), “Chủ nhật buồn” (“Gloomy Sunday”), “Triệu đóa hoa hồng” (“Kachiusa”)... Những ca khúc bất hủ này cho thấy, nếu được chuyển thể bằng sự đồng cảm và tài năng âm nhạc thực sự, thì những ca khúc này có giá trị thẩm mỹ và sức sống lâu bền.
Một vấn đề khá quan trọng của “nhạc ngoại lời Việt” là chuyện có liên quan đến vấn đề bản quyền ca khúc. Việt Nam giờ đã là thành viên của WTO, đã ký công ước Berne về vấn đề tác quyền. Nhạc sĩ, ca sĩ nước ngoài không chấp nhận bất cứ ai sử dụng tác phẩm của mình không chỉ vì vấn đề tác quyền mà để đảm bảo không bị biến dạng. Với xu thế đó “fast-food nhạc ngoại lời Việt” sẽ khó mà tồn tại lâu. Điều đáng quan tâm là hậu quả tác động không tốt về văn hóa, thị hiếu thẩm mỹ và sự trong sáng của tiếng Việt đang bị dòng nhạc này làm biến dạng.
Xuân Viên