Giai đoạn 2006- 2010, Việt Nam đã vượt ngưỡng “nước đang phát triển có thu nhập thấp” để gia nhập khối các quốc gia có thu nhập trung bình. Bước vào giai đoạn 2011-2015, kinh tế Việt Nam đối mặt với bối cảnh lạm phát cao, giá cả tăng, đầu tư kém hiệu quả, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài kém
Các chuyên gia kinh tế cho rằng, cần tái cấu trúc nền kinh tế để giải quyết dứt điểm căn nguyên bất ổn và lạm phát.
Những điểm “nghẽn” tăng trưởng
PGS.TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam, cho rằng: “Giai đoạn 2006- 2010 kinh tế Việt Nam chứa đựng “nghịch lý” phát triển: cơ hội lớn, mức đầu tư cao, thị trường mở rộng, đà tăng trưởng tốt, nhưng tăng trưởng giảm, lạm phát cao và bất ổn nghiêm trọng. Trong vòng 5 năm, tính cộng dồn đơn giản, lạm phát (CPI) đã tăng gần 60%, trong khi tổng tăng trưởng GDP chỉ đạt 35,1%”. Hằng năm, Chính phủ đều ban hành các nghị quyết điều hành kinh tế để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, các giải pháp ngắn hạn không thể giải quyết dứt điểm căn nguyên của lạm phát, ổn định kinh tế. Giai đoạn 2011-2015, Việt Nam bước sâu vào nền kinh tế thế giới, các yếu tố tăng giá và bất ổn là rất lớn. Những bất ổn này phát sinh từ việc duy trì quá lâu một mô hình tăng trưởng không còn phù hợp”.
 |
|
Thắt chặt tiền tệ kiềm chế lạm phát là giải pháp đang được triển khai sâu rộng. Ảnh: ĐỖ CHÍ THIỆN. |
Các chuyên gia kinh tế cho rằng, Việt Nam hội nhập sâu vào WTO, nhưng lợi nhuận lại tập trung nhiều ở khối phi sản xuất, việc chậm cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là những nguy cơ trong dài hạn của nền kinh tế vĩ mô. Thu nhập của người dân không tăng, nhưng giá lại tăng nhanh. Việc nới lỏng trong đầu tư (đẩy mạnh thu hút đầu tư để tăng trưởng) dẫn đến đầu tư tràn lan, thiếu kiểm soát, ô nhiễm môi trường không chỉ ở thành thị mà đã tràn về khu vực nông thôn. Việc mời gọi, thu hút đầu tư nước ngoài còn hạn chế, ưu tiên mời gọi dự án công nghệ cao, nhưng đa phần dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, thâm dụng lao động, còn dự án công nghệ cao rất hạn chế. Trong khi đó, trái phiếu Chính phủ cần kiểm soát chặt thì lại buông lỏng; các DNNN sợ mất vốn trước bối cảnh lạm phát đã co hẹp sản xuất, làm méo mó nền kinh tế.
Tiến sĩ Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia, nói: “Cần nhận thức lại vai trò của DNNN trong nền kinh tế. Từ năm 1990, cả nước có 12.000 DNNN, hiện tại đã sắp xếp lại còn 1.500 DN. Lực lượng này đóng góp thực chất khoảng 27-28% GDP. Đây là lực lượng để giải quyết những khuyết tật của thị trường, mà bản thân thị trường không giải quyết được. Tuy nhiên, việc ra đời hàng loạt các tập đoàn nhà nước theo kiểu hành chính hóa là không ổn. Trong khi có những lĩnh vực nhà nước cần thiết phải thành lập tập đoàn như lĩnh vực cơ khí chế tạo, công nghiệp phụ trợ để đi lên công nghiệp công nghệ cao thì không chú trọng, những lĩnh vực cần làm thì lại kêu gọi xã hội hóa”. Trên thực tế, những năm gần đây, những cơn “sốt” nhà đất, chứng khoán, lương thực... là minh chứng về sự bất hợp lý trong việc phân bổ nguồn vốn đầu tư, làm méo mó thị trường và lãng phí nguồn lực xã hội.
Trong mục tiêu phát triển, các địa phương đều tập trung tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm nông nghiệp và ưu tiên vốn cho công nghiệp, nhưng thặng dư của ngành không cao. Trong khi các doanh nghiệp công nghiệp quy mô vừa và nhỏ rất dễ tổn thương trước sóng gió thị trường và sự phát triển của ngành công nghiệp công nghệ cao không đạt như kỳ vọng.
Thay đổi mô hình tăng trưởng
Chính phủ ban hành Nghị quyết 11 (ngày 24-2-2011) với 6 nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô khá sát thực tế. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, muốn kiềm chế lạm phát phải thực hiện đồng bộ rất nhiều giải pháp, sử dụng công cụ điều tiết vĩ mô theo quy luật thị trường. Cần nhìn nhận đúng vai trò của nhà nước trong điều hành kinh tế thị trường. Việc điều chỉnh tỉ giá vừa rồi là một bước tiến sát hơn với thị trường, dù ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế, phải chấp nhận tổn thương và đây là giải pháp cần thực hiện.
Tại hội thảo “Kinh tế Việt Nam: những vấn đề đặt ra trong trung và dài hạn” do Ủy ban kinh tế của Quốc hội phối hợp cùng Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức ở TP Cần Thơ ngày 10-3, các diễn gia cho rằng, giai đoạn 2011-2015, mục tiêu ưu tiên trong hành động của Nhà nước phải thay đổi. Năm 2011 phải triển khai ngay kế hoạch tái cấu trúc nền kinh tế, chứ không đợi kinh tế ổn định mới làm. Trong đó, chú trọng xây dựng và phát triển công nghiệp phụ trợ ngay từ đầu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong hoạch định chính sách và điều hành kinh tế vĩ mô, cần dựa vào những nguyên lý cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường để thực hiện. Tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, mạnh dạn xóa những ngân hàng yếu kém.
|
GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Phó chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, nói: “Cùng với đổi mới mô hình tăng trưởng là vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế. Tập trung làm rõ những ưu tiên và đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế dựa trên lợi thế so sánh. Cần thẳng thắn nhìn nhận vì sao chúng ta vẫn không có công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ logistics... Cần tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng tiết kiệm năng lượng và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu”
|
Ông Lê Quốc Dung, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, cho biết: “Nền kinh tế hiện còn nhiều lĩnh vực còn nặng bao cấp, bất cập phát sinh là thu nhập của người dân không tăng, nhưng giá lại tăng. Cần đánh giá lại dòng lợi nhuận trong vòng 5-10 năm qua được phân phối như thế nào trên từng lĩnh vực cụ thể, các tầng lớp trong xã hội. Hiện nay, lạm phát cao, người dân nghèo và người làm công ăn lương chịu thiệt trước việc tăng giá”. Theo tiến sĩ Trần Du Lịch, tái cấu trúc các tập đoàn nhà nước cần có kế hoạch tổng thể. Chính phủ không bảo lãnh tín dụng hoặc cho vay chỉ định đối với DNNN. Buộc tất cả doanh nghiệp phải huy động vốn qua cơ chế thị trường, minh bạch hóa tài chính.
Trong một thập niên qua, theo các chuyên gia kinh tế, Việt Nam theo đuổi mô hình tăng trưởng dựa vào vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư công- chiếm tỉ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của xã hội, nhưng lại có hiệu quả thấp. Do vậy, cần thay đổi mô hình tăng trưởng, tạo ra các cơ chế huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào ngân sách. Thay đổi tư duy về vai trò nhà nước trong điều hành kinh tế, giảm bớt chức năng “nhà nước kinh doanh”. Tuy nhiên, chính sách điều hành kinh tế phải nhất quán và nêu cao vai trò kỷ cương.
GIA BẢO