Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu khoảng 15-16% so với năm 2025. Tuy nhiên, trong bối cảnh thương mại toàn cầu có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại, để đạt mục tiêu này đòi hỏi ngành Công Thương tăng cường năng lực dự báo và khả năng thích ứng với các biến động kinh tế - địa chính trị thế giới. Hoạt động sản xuất và xuất khẩu cần chuyển dần từ lợi thế chi phí thấp sang nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả và tính bền vững.

Kiểm tra chất lượng trái bưởi phục vụ xuất khẩu tại Công ty CP Tập đoàn xuất - nhập khẩu trái cây Chánh Thu.
Nhiều thách thức
Tháng 2-2026, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 33,09 tỉ USD, lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 76,39 tỉ USD, tăng 18,31% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là kết quả tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động, thể hiện nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp cũng như hiệu quả bước đầu của các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu được Chính phủ và các bộ, ngành triển khai ngay từ đầu năm.
Bên cạnh kết quả đạt được, để duy trì và bứt phá trong năm 2026, xuất khẩu nước ta còn phải đối mặt với nhiều thách thức từ cả yếu tố bên ngoài và nội tại. Ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, phân tích về yếu tố bên ngoài, xung đột Nga - Ukraine kéo dài và xung đột quân sự tại Trung Đông không chỉ làm gia tăng chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hải và thời gian giao hàng, mà còn tạo ra áp lực lớn đối với chuỗi cung ứng và hoạt động thương mại quốc tế. Về yếu tố nội tại, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào gia công, lắp ráp với giá trị gia tăng còn thấp. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn về tài chính, công nghệ và năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới chưa tương xứng với tiềm năng; trong khi đó chi phí logistics còn cao, tỷ lệ nội địa hóa trong sản xuất thấp và nguồn lực dành cho hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) còn hạn chế.
Tại thị trường chiến lược Hoa Kỳ, quy mô lớn và còn nhiều tiềm năng cho hàng hóa Việt Nam. Tuy nhiên, theo ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán Thương mại Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ, thị trường này đang thay đổi rất nhanh, không chỉ bởi chính sách thương mại nội tại, mà còn bởi các yếu tố địa chính trị, năng lượng, logistics và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.
“Môi trường chính sách tại Hoa Kỳ đang trở nên phức tạp hơn, tạo thêm sức ép đối với doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Mặt khác, khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ hiện nay không chỉ về giá cả hay tiếp cận thị trường, mà còn liên quan đến năng lực tuân thủ và quản trị rủi ro. Bên cạnh các yếu tố thương mại thuần túy, doanh nghiệp xuất khẩu sang Hoa Kỳ còn chịu tác động lan tỏa từ xung đột tại Trung Đông và biến động của thị trường xăng dầu, năng lượng, logistics toàn cầu” - ông Đỗ Ngọc Hưng cho hay.
Linh hoạt thích ứng
Năm 2026, Việt Nam phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng khoảng 15-16% so với năm 2025, tương ứng tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2026 dự kiến khoảng 546-550 tỉ USD.
Để đạt mục tiêu đề ra, ông Vũ Bá Phú cho biết: Cục XTTM tiếp tục phối hợp với các hiệp hội ngành hàng, địa phương, doanh nghiệp và hệ thống thương vụ triển khai đa dạng các chương trình XTTM theo hướng chuyên sâu, gắn với các thị trường trọng điểm (EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN…), đồng thời mở rộng sang các thị trường mới nổi và thị trường ngách. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng tuyến đầu trong cung cấp thông tin thị trường, kết nối doanh nghiệp, hỗ trợ tháo gỡ rào cản thương mại và tổ chức các hoạt động XTTM tại sở tại.
Ông Ngô Khắc Lễ, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, cho rằng, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng chịu tác động từ các yếu tố địa chính trị và an ninh hàng hải, việc hiểu rõ các điều khoản vận tải quốc tế, thương mại, bảo hiểm quốc tế và chuẩn bị các phương án ứng phó phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu thiệt hại và duy trì hoạt động kinh doanh ổn định.
“Trước hết, doanh nghiệp nên đánh giá lại các hợp đồng vận chuyển và vận đơn, đặc biệt là các điều khoản liên quan đến chiến tranh hoặc điều khoản cho phép tàu đi chệch hành trình (deviation clause). Đồng thời, khi tham gia ký kết hợp đồng mua bán, doanh nghiệp có thể xem xét bổ sung các điều khoản xử lý trong trường hợp tàu thay đổi tuyến hoặc dỡ hàng ngoài kế hoạch. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần tăng cường bảo hiểm cho chuỗi logistics, xem xét mở rộng phạm vi bảo hiểm đối với các rủi ro phát sinh trong bối cảnh địa chính trị bất ổn. Một giải pháp quan trọng khác là đa dạng hóa tuyến vận tải và cảng trung chuyển, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào một tuyến hoặc một hãng tàu” - ông Ngô Khắc Lễ lưu ý.
Ông Đỗ Ngọc Hưng nhấn mạnh: Trong giai đoạn tới, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam tại Hoa Kỳ không chỉ nằm ở giá cả hay năng lực sản xuất, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng tuân thủ, minh bạch hóa chuỗi cung ứng, giao hàng ổn định và thích ứng với các biến động lớn của môi trường thương mại quốc tế. Các hiệp hội ngành hàng, địa phương và doanh nghiệp cần chủ động xây dựng kế hoạch XTTM từ sớm, bám sát diễn biến chính sách của Hoa Kỳ, đặc biệt là về thuế quan, hải quan, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường, an toàn sản phẩm và yêu cầu bền vững. Cùng với đó, hoạt động XTTM với thị trường Hoa Kỳ nhưng cần lựa chọn hình thức phù hợp, tiết kiệm hơn, hiệu quả hơn, cân đối giữa duy trì hiện diện thị trường với tối ưu hóa chi phí. Các hội chợ, triển lãm chuyên ngành lớn tại Hoa Kỳ vẫn rất quan trọng, nhưng cần được chuẩn bị kỹ hơn về mục tiêu, đối tác, khả năng theo đuổi đơn hàng sau xúc tiến và phương án xử lý rủi ro.
Bài, ảnh: MỸ THANH