ĐBSCL có hệ thống sông, kênh, rạch dày đặc và 744km bờ biển, giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, ĐBSCL cũng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro do thiên tai như sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn, gây uy hiếp nghiêm trọng đến ổn định dân sinh, cơ sở hạ tầng và phát triển KT-XH.
Tác động nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu
Tình trạng sụt lún, sạt lở, ngập úng và xâm nhập mặn tại vùng ĐBSCL diễn biến phức tạp, nghiêm trọng hơn so với trước đây. Nhiều khu vực sạt lở đặc biệt nguy hiểm, ngập úng đô thị gia tăng. Hiện nay, hầu hết các khu vực thuộc vùng ĐBSCL đều xảy ra sụt lún từ 0,5-3cm/năm; các vùng ven biển phổ biến lún từ 1,5-2,5cm/năm, nhiều nơi hơn 2,5cm/năm.

Sạt lở nghiêm trọng xảy ra tại xã Nhơn Mỹ.
Kết quả đo đạc của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) cho thấy mức độ sụt lún tại vùng ĐBSCL trong vòng 5 năm gần đây từ dưới 5cm đến trên 10cm. Riêng vùng Bán đảo Cà Mau, từ năm 2016 đến nay đã xuất hiện 2.137 điểm sụt lún đất tại các tuyến đường giao thông nông thôn và đê bao ven kênh, rạch với tổng chiều dài trên 53km.
Về sạt lở, từ năm 2016 đến nay đã xuất hiện 812 điểm sạt lở với tổng chiều dài trên 1.210,876km. Ngập úng do triều cường gây ra đã gia tăng đáng kể cả về diện tích và chiều sâu ngập úng, độ ngập sâu trung bình từ 0,2-0,4m (tăng 5-6% so với 10 năm trước), cá biệt một số nơi ở TP Cần Thơ và Vĩnh Long ngập sâu 0,6-0,7m; thời gian ngập thường kéo dài từ 2-4 giờ mỗi đợt triều cường. Riêng tại TP Cần Thơ, ngập thường kéo dài 4-6 giờ mỗi đợt, trường hợp triều cường kết hợp với mưa lớn thời gian ngập có thể kéo dài từ 10-12 giờ.
Xâm nhập mặn ở ĐBSCL có xu thế ảnh hưởng sớm hơn từ 1-1,5 tháng (so với năm 2013 trở về trước). Thêm vào đó, hạn mặn khốc liệt cũng diễn ra nhiều hơn, trong 10 năm gần đây, ĐBSCL đã xuất hiện 3 đợt hạn hán, xâm nhập mặn lớn, trong đó có 2 đợt cao lịch sử là mùa khô năm 2015-2016 (ranh mặn 4g/l vào sâu 60-73km), năm 2019-2020 (ranh mặn 4g/l vào sâu 70-80km)...
Ông Phạm Đức Luận, Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai Bộ NN&MT, cho biết: “Nguyên nhân chính dẫn đến các hiện tượng trên là do phát triển kinh tế thượng nguồn sông Mekong, xây dựng hồ chứa nước; khai thác cát; gia tăng diện tích tưới; khai thác vận hành kênh đào Phù Nam… Ngoài ra còn có tác động do phát triển KT-XH nội vùng ĐBSCL, sự gia tăng dân số và biến đổi khí hậu”.
Lời giải tổng thể cho bài toán thích ứng
Theo Bộ NN&MT, các hiện tượng trên không còn là vấn đề riêng của từng địa phương mà là thách thức liên vùng, liên ngành, lâu dài, tác động trực tiếp đến ổn định dân sinh, phát triển bền vững và an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL giai đoạn 2026-2035.
Kết luận số 26-KL/TW quán triệt quan điểm chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, tôn trọng quy luật tự nhiên để xử lý tận gốc các rào cản phát triển tại ĐBSCL. Giải pháp phải đảm bảo tính tổng thể, liên vùng, kết hợp hài hòa giữa “phi công trình” và “công trình”. Trong đó, lấy đời sống người dân làm thước đo, phát triển KT-XH làm trọng tâm, giữ vững môi trường và quốc phòng - an ninh làm nguyên tắc nền tảng.
Bên cạnh đó, Kết luận xác định các nhiệm vụ, giải pháp để tập trung thực hiện. Đó là hoàn thiện việc rà soát, bổ sung các nội dung kịch bản thiên tai của vùng ĐBSCL vào hệ thống quy hoạch quốc gia; rà soát, đánh giá hiệu quả, tác động của các công trình, cơ sở hạ tầng đã đầu tư (bao gồm cả công trình giao thông), kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập, ưu tiên xây dựng các dự án có tính tổng thể, đa mục tiêu, các cơ sở hạ tầng phục vụ di dời dân; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ cao, tích hợp trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu; tăng cường hợp tác quốc tế song phương và đa phương, nhất là cơ chế hợp tác tiểu vùng sông Mekong; kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về nguồn nước, hệ thống thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai, ưu tiên bố trí nguồn lực, có chính sách phù hợp để khuyến khích, thu hút các dự án đầu tư nước ngoài, khai thác hiệu quả nguồn lực bổ sung như bán tín chỉ các-bon và các nguồn lực khác...
Đến nay, Bộ NN&MT đã xây dựng kế hoạch thực hiện Kết luận số 26-KL/TW, đồng thời xây dựng Nghị quyết của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận này. Bên cạnh đó, Bộ cũng đã đề xuất 8 dự án đầu tư thực hiện trong giai đoạn 2026-2030, với tổng kinh phí 32.593 tỉ đồng từ nguồn ngân sách, vốn vay, vốn viện trợ.
Ông Trịnh Việt Hùng, Bộ trưởng Bộ NN&MT, chỉ đạo: “Ngay thời điểm này, các tỉnh, thành vùng ĐBSCL và các đơn vị trực thuộc Bộ quán triệt sâu sắc tinh thần cốt lõi của Kết luận số 26-KL/TW. Đó là chuyển mạnh từ tư duy “ứng phó bị động” sang “chủ động phòng ngừa, thích ứng”; tôn trọng quy luật tự nhiên; xử lý vấn đề theo hướng tổng thể, liên vùng, đa mục tiêu; kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình; lấy người dân làm trung tâm, lấy phát triển bền vững làm mục tiêu xuyên suốt. Qua đó khẩn trương cụ thể hóa kết luận thành các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể của từng địa phương, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị…”.
Bài, ảnh: HÀ VĂN