10/07/2019 - 18:26

Kỷ niệm Ngày Dân số thế giới 11-7

Dân số và phát triển:
Chuyển biến sau 25 năm 

Ngày Dân số thế giới năm nay, Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc chọn chủ đề: “25 năm sau Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển: Thúc đẩy tiến độ nhằm đạt được những nội dung đã cam kết”. Ðây cũng là dịp để Việt Nam nhìn nhận lại kết quả đạt được và có những giải pháp phát triển thời gian tới.

Cộng tác viên dân số góp phần rất lớn phát triển công tác dân số. Trong ảnh: Cộng tác viên dân số quận Ô Môn tuyên truyền kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho chị em.

Năm 1994, tại Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển, 179 quốc gia đã thông qua Chương trình hành động với tầm nhìn sâu rộng trong lĩnh vực dân số và phát triển. Các quốc gia đồng thuận với quan điểm cần đặt con người vào vị trí trung tâm. Sau hội nghị, công tác dân số thế giới đạt nhiều thành tựu đáng kể. Nếu thời điểm năm 1994, tại các nước kém phát triển chỉ khoảng 15% phụ nữ đã kết hôn có sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, thì hiện nay, tỷ lệ này là 37%; tỷ lệ tử vong của phụ nữ mang thai hoặc sinh con xấp xỉ 8/1.000 người, thì hiện nay, tỷ lệ này giảm xuống một nửa. Một thống kê khác, thời điểm 1994, trung bình một phụ nữ sinh 6 con; hiện nay, tối đa là 4 con.

Theo Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS- KHHGĐ) Việt Nam, 25 năm trước, Việt Nam đã tham gia ký kết tại hội nghị, nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa dân số và phát triển, kêu gọi lồng ghép các vấn đề dân số bao gồm tỷ lệ tăng dân số, cơ cấu tuổi, mức sinh, mức chết, di cư... vào các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Giai đoạn 1989-1999, tốc độ gia tăng dân số tại Việt Nam được khống chế ở mức bình quân 1,7%/năm và giảm xuống dưới 1,2%/năm giai đoạn 1999 - 2009, từ năm 2010 đến nay, tỷ lệ tăng khoảng 1%. Số con trung bình mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm mạnh từ 6,39 con năm 1960 xuống 2,33 con năm 1999, đạt mức sinh thay thế 2,09 con năm 2006, sớm hơn 10 năm so với mục tiêu Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) và duy trì cho đến nay.

Việt Nam bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007 và dự kiến đạt đỉnh vào năm 2020, với dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 70%. Chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tỷ lệ suy dinh dưỡng và tỷ suất tử vong ở bà mẹ mang thai và trẻ sơ sinh đều giảm. Mạng lưới tầm soát, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh được triển khai rộng khắp cả nước. Đến nay, 25% bà mẹ mang thai và 35% trẻ sơ sinh được tầm soát, chẩn đoán, can thiệp và điều trị sớm một số bệnh, tật. Tầm vóc thể lực của người Việt Nam có bước cải thiện; tuổi thọ trung bình tăng từ 65,5 tuổi năm 1993 lên 73,5 tuổi năm 2018, cao hơn các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người.

Những kết quả đó phần lớn nhờ vào sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về dân số cho cộng đồng; đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng tác viên, tuyên truyền viên “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”. Người có uy tín trong cộng đồng được phát huy vai trò trong tuyên truyền, vận động cộng đồng thực hiện chính sách DS-KHHGĐ. Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện vẫn còn nhiều thách thức lớn trong công tác DS- KHHGĐ. Quy mô dân số lớn, mật độ dân số cao và tiếp tục tăng, mức sinh chênh lệch đáng kể giữa các vùng, đối tượng. Tỷ số giới tính khi sinh đang ở mức nghiêm trọng và ngày càng lan rộng. Di cư diễn ra với cường độ mạnh trên phạm vi cả nước. Thời kỳ dân số vàng đan xen với già hóa dân số với tốc độ rất nhanh; đặc biệt, chất lượng dân số còn hạn chế.

Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Đảnh, Chi cục Trưởng Chi cục DS - KHHGĐ TP Cần Thơ cho biết, kỷ niệm Ngày Dân số thế giới 11-7, hưởng ứng chủ đề được phát động, Chi cục DS- KHHGĐ TP Cần Thơ tổ chức nhiều hoạt động từ thành phố đến cơ sở. Thông qua các kênh truyền thông đại chúng và truyền thông trực tiếp với các hình thức đa dạng như về thực trạng, thách thức và giải pháp từng bước giải quyết vấn đề dân số và phát triển trong những năm tới. Triển khai các loại hình cung cấp thông tin, dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGĐ, nâng cao chất lượng dân số tại vùng sâu, vùng xa. Tổ chức kiểm tra, giám sát, sơ kết, đánh giá việc thực hiện các chủ trương, luật pháp, chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước về công tác dân số và phát triển... Qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội trong việc thay đổi hành vi về dân số và phát triển.

Nhiều ý kiến cũng cho rằng, tới đây, công tác dân số cần tiếp tục thực hiện các mục tiêu của Chương trình hành động của hội nghị năm 1994, tập trung duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả lợi thế cơ cấu dân số vàng; thích ứng với già hóa dân số một cách chủ động; từng bước nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội, góp phần phát triển đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới.

Bài, ảnh: THU SƯƠNG

Chia sẻ bài viết