20/08/2010 - 08:09

KỶ NIỆM 65 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2-9

Bài học của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với công cuộc đổi mới

(Tiếp theo và hết)

* NGUYỄN MẠNH HÀ
Đại tá, TS, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 5-1941) chỉ rõ trước hết phải “tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp - Nhật xâm chiếm nước ta. Sự liên minh tất cả các lực lượng của giai cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo, các dân tộc kháng Nhật, đó là công việc cốt yếu của Đảng ta”(1).

 Quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở Sài Gòn (8-1945). Ảnh: T.L.

Mặt trận Việt Minh ra đời trở thành mặt trận dân tộc thống nhất của Việt Nam, khẳng định tuyên ngôn “chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”(2). Việt Minh “Coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do độc lập”(3).

Để có thể “giơ tay đón tiếp các cá nhân hay đoàn thể”, Chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh gồm 41 điểm (sau đúc kết thành 10 điểm), là một hệ thống các chính sách về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội, ngoại giao cụ thể đối với các tầng lớp công nhân, nông dân, binh lính, tri thức, công chức, học sinh, phụ nữ, thiếu nhi, tư sản, địa chủ, nhà buôn, người già, người tàn tật... Chương trình Việt Minh là cơ sở quan trọng để đoàn kết tập hợp mọi lực lượng dân tộc vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cho đất nước.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong hoàn cảnh rất khẩn trương, hầu hết cán bộ trong bộ máy chính quyền từ Trung ương đến các địa phương đều không được đào tạo về quản lý, hành chính, chỉ sẵn có lòng yêu nước, nhiệt tình cách mạng và quyết tâm xây dựng, bảo vệ chính quyền non trẻ. Mọi công việc quản lý chính quyền đều mới mẻ, bỡ ngỡ. Ngay từ những ngày đầu Chính phủ lâm thời được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân... Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(4). Người nhắc nhở: Chớ có vác mặt làm quan cách mạng để cho dân ghét, dân khinh v.v.. Chính quyền cách mạng non trẻ sau Cách mạng Tháng Tám tồn tại và phát triển được chính là nhờ có sự ủng hộ, bảo vệ hết lòng, hết sức của nhân dân.

Những điểm mạnh, yếu của chính quyền dân chủ nhân dân về mặt tổ chức bộ máy, nhân sự, về trình độ, năng lực và đạo đức của cán bộ, nhân viên chính quyền, được hình thành và xây dựng từ sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một cách cụ thể, thẳng thắn, có cả tính cảnh báo, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, việc xây dựng một chính quyền nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân luôn là tiêu chí, là mục đích để chúng ta phấn đấu. Chính quyền có mạnh, hoạt động có hiệu quả, ắt phải dựa vào dân. Quần chúng nhân dân là một lực lượng to lớn, sáng suốt, có sức mạnh vô song. Chính quyền phải tiêu biểu cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phải thực sự làm theo khẩu hiệu “Dân biết - dân bàn - dân kiểm tra và dân được hưởng”, như thế mới đạt tới ý nghĩa đầy đủ của cụm từ “lấy dân làm gốc”.

Một trong những biểu hiện dễ thấy của một chính quyền có thực sự là đại diện cho ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng hay không là ở chỗ chính quyền đó có lắng nghe phản biện của các tầng lớp nhân dân về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội thiết thân đối với cuộc sống của người dân hay không. Nếu chính quyền và người dân đạt được sự đồng thuận cao (chứ không phải đồng ý), thì chính quyền đó sẽ được người dân tin tưởng, ủng hộ và bảo vệ. Bài học của Cách mạng Tháng Tám khi mà Chính phủ lâm thời, ngay sau ngày thành lập, đã đưa ra 6 vấn đề cấp bách cần phải giải quyết, đã đưa ra và khái quát nhiệm vụ cấp bách của chính phủ là phải chống ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, được toàn thể nhân dân đồng tình và hưởng ứng, là một ví dụ, một minh chứng tiêu biểu của một chính quyền của dân.

3 - Vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ để đưa đất nước tiến lên

Thực tế lịch sử lúc đó, vào tháng 8-1945, khi mà điều kiện khách quan nhìn chung thuận lợi như nhau, nhưng chỉ có Việt Nam làm cách mạng thành công; In-đô-nê-xi-a, Lào cũng có kết quả nhưng ở mức thấp hơn, còn hầu hết các nước khác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cụ thể là ở Đông Nam Á, không thể đứng lên làm cách mạng, giành chính quyền. Đành rằng điều kiện, hoàn cảnh ở mỗi quốc gia một khác, nhưng điều muốn nói ở đây là vấn đề chớp thời cơ, tận dụng thời cơ để tiến hành khởi nghĩa ở Việt Nam là một điển hình thành công. Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã biết kết hợp điều kiện khách quan từ bên ngoài thuận lợi với điều kiện chủ quan trong nước đã được chuẩn bị kỹ càng trong một thời gian dài, với bao khó khăn gian khổ, hy sinh, để lãnh đạo toàn dân đứng lên giành chính quyền. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã từng nói: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập. Quyết tâm sắt đá đó của Người cũng chính là quyết tâm của Đảng, của cả dân tộc, đã trở thành hiện thực. Đất nước giành được độc lập, ách thống trị của phong kiến, thực dân, phát-xít bị đập tan, nhân dân làm chủ cuộc sống của mình.

Năm 1986, mười một năm sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, do những điều kiện khách quan không thuận lợi, mà đặc biệt là những sai lầm chủ quan trong quản lý, điều hành, nền kinh tế - xã hội nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc, đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Chính phủ. Chế độ xã hội đứng trước nguy cơ to lớn mất còn. Chính vào lúc đó, Đảng đã mạnh dạn đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ về kinh tế trên cơ sở đổi mới từng bước về chính trị. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp dần được thay thế bằng nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hệ thống chính trị được xây dựng và hoạt động theo hướng ngày càng dân chủ, công khai trên cơ sở luật pháp quy định v.v.. Nhờ thế, chỉ trong thời gian không dài, đất nước đã chuyển mình theo hướng tích cực, dần vượt thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp hoạt động ngày càng hiệu quả, lòng tin của nhân dân tăng cao. Chế độ được giữ vững, không bị cuốn theo sự đổ vỡ của một loạt nước cùng mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội như ở Đông Âu và Liên Xô.

Đó là một thành công lớn. Từ trong khó khăn thách thức tưởng chừng khó có thể vượt qua đó, Đảng ta đã nhận thấy đó cũng chính là cơ hội để đổi mới, để tiến lên cũng như trong Cách mạng Tháng Tám, nhân dân tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Đảng tin vào sức mạnh vô địch, lòng yêu nước của nhân dân đã được thử thách trong đấu tranh cách mạng giành chính quyền và kháng chiến chống xâm lược, cùng quyết tâm vượt qua khó khăn, biến thách thức thành cơ hội để phát triển.

Các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính - tiền tệ năm 1997 - 1998 và 2008 - 2009 ở khu vực, cũng như trên phạm vi thế giới, đã ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam, nhưng Việt Nam cũng là một trong số ít nước đã vượt qua một cách thành công, ít chịu tác động tiêu cực kéo dài của khủng hoảng. Đó cũng là một minh chứng cho bài học Đảng và nhân dân ta biết cách vượt qua khó khăn, thử thách, tận dụng cơ hội và thời cơ, được khởi nguồn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

(Theo Tạp chí Cộng sản)

(1) Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t7, tr 112-113.
(2), (3) Văn kiện Đảng đã dẫn, t7, tr 461.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, t4, tr 56-57.

Chia sẻ bài viết