17/08/2026 - 09:32

Giữ vững "Bốn kiên định" trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Bài 3: Kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng (tiếp theo và hết) 

“Bốn kiên định” là kim chỉ nam để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta giữ vững niềm tin, củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm sự thống nhất giữa ý chí chính trị với hành động thực tiễn. Giữ vững “Bốn kiên định” cần được cụ thể hóa bằng những giải pháp đồng bộ, toàn diện, có tính chiến lược, nhằm củng cố ổn định chính trị, tạo nền tảng để Việt Nam chủ động thích ứng với những biến đổi của thời đại.

Nâng cao bản lĩnh chính trị, vai trò và tinh thần chiến đấu của cấp ủy, tổ chức Đảng

Giữ vững “Bốn kiên định” về chính trị, tư tưởng trong tình hình mới sẽ giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân miễn nhiễm với các thông tin độc hại trên không gian mạng, đồng thời củng cố niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta và nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Trước hết, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, vai trò gương mẫu và tinh thần chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, cùng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt và cán bộ cấp chiến lược. Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những tác động ngày càng phức tạp của chiến tranh nhận thức và các quan điểm sai trái, thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự vững vàng về lập trường tư tưởng, có năng lực nhận diện đúng - sai, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng và giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống. Đồng thời, cần phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong lời nói, hành động, tinh thần dám nghĩ, dám đấu tranh, dám chịu trách nhiệm, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Mặt khác, trong bối cảnh bùng nổ thông tin như hiện nay, các cấp ủy Đảng cần lãnh đạo hiệu quả công tác tuyên truyền, báo chí, truyền thông; quản lý tốt an ninh mạng; bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, sâu rộng, các cấp, các ngành, địa phương cần đặc biệt chú trọng công tác đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ trên không gian mạng. Không gian mạng, đặc biệt là các nền tảng mạng xã hội, phải trở thành môi trường lan tỏa những nét đẹp, những “điều hay lẽ phải” trong cuộc sống, kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi những “thói hư tật xấu”.

Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, đặt nhân dân ở vị trí trung tâm trong mọi quyết sách phát triển và trong toàn bộ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đây không chỉ là nguyên tắc chính trị nhất quán của Đảng mà còn là nền tảng tạo nên sức mạnh nội sinh, củng cố “thế trận lòng dân” trong bối cảnh chiến tranh nhận thức và các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng chính đáng và nhu cầu thực tiễn của nhân dân; lấy chất lượng cuộc sống, mức độ thụ hưởng và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo quan trọng nhất của hiệu quả quản trị quốc gia.

Đồng thời, cần phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ, vai trò phản biện xã hội và cơ chế giám sát của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, hệ thống chính trị cũng như lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân. Khi nhân dân thực sự được lắng nghe, được bảo vệ quyền lợi và được tham gia vào quá trình quản trị đất nước, niềm tin xã hội sẽ được củng cố bền vững. Đó chính là cơ sở chính trị - xã hội quan trọng nhất để tăng cường sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, giữ vững ổn định quốc gia và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Bên cạnh đó, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng “thế trận lòng dân” nhằm củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ lợi ích của nhân dân, lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo. Đây không chỉ là nền tảng của ổn định chính trị, mà còn là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn để bảo vệ Tổ quốc khi dân tin Đảng, đồng lòng cùng Nhà nước.

Thủ trưởng Ban giám hiệu Trường Sĩ quan Lục quân 1 trao bằng tốt nghiệp cho học viên Khóa 90 đào tạo trình độ đại học.

Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quốc phòng, an ninh

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, cần giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh. Đảng, Nhà nước tập trung xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành, kiên định các nguyên tắc của Đảng, bảo đảm sức mạnh chiến đấu, làm nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Đối với lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam, để hiện thực hóa “Bốn kiên định” và có đóng góp quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chính sách quốc phòng “Bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách “Bốn không” giúp Việt Nam giữ vững thế cân bằng chiến lược, không để đất nước bị cuốn vào đối đầu địa chính trị hay phụ thuộc vào bất kỳ liên minh quân sự nào, qua đó bảo vệ tối đa lợi ích dân tộc. Trong bối cảnh mới, chính sách “Bốn không” chính là nền tảng quan trọng để Quân đội thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng.

Kiên trì thực hiện “Bốn kiên định” và đường lối đối ngoại quốc phòng “Bốn không” không chỉ thể hiện bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược và tính nhất quán của Đảng, Nhà nước ta, mà còn là nền tảng để Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vững vai trò lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. “Bốn kiên định” giúp Quân đội luôn giữ vững bản chất cách mạng, mục tiêu chiến đấu và tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; trong khi “Bốn không” thể hiện đường lối quốc phòng độc lập, tự chủ, hòa bình, tự vệ, tránh để đất nước bị cuốn vào cạnh tranh địa chính trị hoặc đối đầu quân sự. Đây thực chất là sự kết hợp giữa sức mạnh chính trị với tư duy an ninh hiện đại, nhằm tạo thế ổn định chiến lược lâu dài cho quốc gia.

Trong giai đoạn phát triển mới, Quân đội không chỉ thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, mà còn tiếp tục phát huy vai trò đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Thông qua tham gia xây dựng hạ tầng chiến lược, phát triển vùng sâu, vùng xa, chuyển đổi số, công nghiệp quốc phòng công nghệ cao, cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống thiên tai và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, Quân đội đang trực tiếp góp phần củng cố nội lực quốc gia. Trong điều kiện đất nước đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong những năm tới, vai trò của Quân đội càng không chỉ nằm ở bảo vệ thành quả phát triển, mà còn tham gia kiến tạo môi trường ổn định, an toàn và bền vững để phát triển nhanh, hiện đại và hùng cường.

Nâng cao “sức đề kháng văn hóa”, hình thành “màng lọc tư tưởng” tự nhiên

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng tiếp theo các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng thực hiện là xây dựng và nâng cao “sức đề kháng văn hóa”, hình thành “màng lọc tư tưởng” tự nhiên cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trên không gian mạng, nhất là thế hệ trẻ. Trong cuộc chiến chống lại các thông tin xấu độc, nếu các giải pháp kỹ thuật và pháp lý là “lá chắn ngoại lực”, thì sức đề kháng văn hóa chính là “hệ miễn dịch nội sinh” quyết định sự vững vàng của mỗi cá nhân. Nó thể hiện ở sự tỉnh táo, không vội vã tin theo, không tán phát những thông tin chưa kiểm chứng, biết cách dùng lý lẽ sắc bén để phản bác các quan điểm sai trái theo tinh thần “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực”. Sức đề kháng văn hóa không tự nhiên mà có, nó phải được bồi đắp từ sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử dân tộc, giá trị văn hóa và bản chất của chế độ.

Khi mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và nhận diện rõ những thành quả vĩ đại của cách mạng, họ sẽ tự khắc có khả năng “miễn nhiễm” trước những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận quá khứ của các thế lực thù địch.

Trong bối cảnh chiến tranh nhận thức ngày càng tinh vi, nhiệm vụ then chốt là phải “xây dựng niềm tin” trong nhân dân. Niềm tin xã hội không được tạo ra chủ yếu bằng khẩu hiệu hay tuyên truyền một chiều, mà được hình thành từ những trải nghiệm thực tiễn, từ hiệu quả quản trị quốc gia, từ công bằng xã hội và từ phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Khi nhân dân “thấy lợi ích thật” trong đời sống, thấy sự phát triển gắn với quyền lợi và cơ hội của mình; “thấy thành quả thật” qua hạ tầng, giáo dục, y tế, an sinh và môi trường xã hội ổn định; đặc biệt “thấy đạo đức công vụ thật” qua tinh thần trách nhiệm, sự liêm chính, tận tụy và gần dân của cán bộ, thì niềm tin chính trị sẽ được củng cố bền vững từ gốc rễ. Ngược lại, mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng, vô cảm hay nói không đi đôi với làm đều trực tiếp làm suy giảm sức thuyết phục của hệ tư tưởng. Vì vậy, xây dựng niềm tin thực chất chính là xây dựng nền tảng chính trị - xã hội vững chắc để bảo vệ Đảng và chế độ trong thời đại số.

Trên cơ sở xác định các giải pháp, vấn đề tiếp theo là xem xét, triển khai theo từng giai đoạn tương ứng với mức độ tập trung, ưu tiên để ứng phó với những thách thức ngắn hạn, trung hạn và lâu dài. Trước hết, về ngắn hạn, cần ưu tiên đấu tranh trên không gian mạng, bảo vệ nền tảng tư tưởng; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; củng cố niềm tin xã hội và giữ vững ổn định chính trị. Đối với trung hạn, cần tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đổi mới giáo dục chính trị, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân. Về lâu dài, kiên định đường lối đổi mới, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng con người Việt Nam và củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, làm nền tảng đưa đất nước phát triển giàu mạnh, thịnh vượng.

“Bốn kiên định” về chính trị, tư tưởng là nền tảng có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh tổng hợp của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược, chiến tranh nhận thức và các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, việc kiên định là cơ sở giữ vững ổn định chính trị, định hướng phát triển và bản sắc chính trị Việt Nam. Đây không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là yêu cầu chiến lược trong nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm sự thống nhất ý chí, hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. “Bốn kiên định” thực chất là “tấm khiên tư tưởng” vững chắc để củng cố niềm tin, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

___________________________

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật (2023), Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới qua đấu tranh chính luận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII.

5. Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV.

6. Quy định số 19-QĐ/TW ngày 8-4-2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.

Nguyễn Quang Chung - Đỗ Thị Minh Nguyệt - Nguyễn Thị Giang

Theo Báo Quân đội Nhân dân

Chia sẻ bài viết