Khi nói về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc tự phê bình và phê bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ tự phê bình và phê bình “cũng như người có bệnh, nếu giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mạng” (1). Vì vậy Người yêu cầu: “Mỗi cán bộ đảng viên phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh và Đảng sẽ mạnh khoẻ vô cùng” (2).
Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta rất vĩ đại, nhưng đầy khó khăn, thử thách. Vì thế, sai lầm và khuyết điểm là điều không thể tránh khỏi đối với Đảng cầm quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống” (3), nên Đảng có những sai lầm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sai lầm. Theo Người, đó là “Vì chúng ta kém về trình độ lý luận và về mặt nắm tình hình thực tế. Vì trong Đảng ta chưa xây dựng hẳn hoi các chế độ công tác thích hợp. Vì dân chủ nội bộ chưa thật mở rộng; vì phê bình và tự phê bình chưa được phát huy, nhất là phê bình từ dưới lên” (4).
Sai lầm khuyết điểm là không tránh khỏi. Vậy trước sai lầm của mình, thái độ của một chính Đảng cách mạng nên như thế nào? Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có những khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (5).
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ kêu gọi nhắc nhở mọi người, mà bản thân Người luôn luôn gương mẫu làm trước, thể hiện một sự nhất quán giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức và nêu gương đạo đức. Người thường chân thành nhắc nhở đồng chí và các học trò của mình không được ngần ngại trong việc góp ý cho mình. “Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa, tức là hại người” (6). Trên tinh thần đó, Người viết bài “Tự phê bình” đăng trên báo Cứu quốc số ra ngày 28-1-1946. Trong bài báo này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên nhiều việc lớn chưa làm được như: các nước chưa công nhận quyền độc lập của ta; kháng chiến ở Nam bộ chưa thắng lợi; tệ tham nhũng chưa quét sạch; chính trị chưa vào nề nếp... Từ đó, Người kết luận: “Những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng, những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi” (7).
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ở một vài nơi thuộc liên khu IV cũ, một số cán bộ địa phương đã làm sai đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, để lại những hậu quả nghiêm trọng, gây ra oan ức cho đồng bào. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào liên khu IV, trong đó Người tự nhận lỗi về mình: “Tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi - là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo” (8). Đây là tấm gương sáng về tinh thần tự phê bình, về trách nhiệm không thể thoái thác của cán bộ cấp trên đối với những sai phạm của cán bộ dưới quyền mình.
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (mở rộng) thảo luận về cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự phê bình và phê bình rất nghiêm túc. Người kết luận: “Vì ta thiếu dân chủ nên nghe ít, thấy ít, bây giờ ta phải dân chủ. Tôi nhận trách nhiệm trong lúc sóng gió này. Tất cả Trung ương phải nghe, thấy, nghĩ, làm như thế. Bài học đau xót này sẽ thúc đẩy chúng ta” (9). Về phương hướng sửa chữa, Người yêu cầu: “Từ Trung ương đến chi bộ xã đều phải làm đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách; đều phải chống cái tệ sùng bái cá nhân và quan liêu mệnh lệnh; đều phải thật thà tự phê bình và phê bình thẳng thắn; đều phải thật sự dân chủ” (10). Sau này, Hồ Chủ tịch đã thay mặt Đảng, Chính phủ tự phê bình và nhận lỗi trước Quốc hội và đồng bào. Đó thực sự là tấm gương sáng về tự phê bình và phê bình để cán bộ đảng viên noi theo.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình” (11). Đối với đa số người dân, niềm tin vào Đảng lãnh đạo, vào chế độ thường được xây dựng trên niềm tin vào đạo đức của những người cầm quyền, những cán bộ có chức có quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được” (12).
Thang thuốc đặc trị cho căn bệnh suy thoái đạo đức, lối sống lúc này chính là phải thực hiện tốt chỉ thị 06 -CT/TW ngày 7-11-2006 của Bộ Chính trị về Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và kiên quyết thực hiện những điều Bác Hồ viết trong Di chúc của Người: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng” (13).
THANH BÌNH
(1); (2); (3); (5); (6) HCM TT NXBCTQG H. 1995 (tập 5 Tr 233; 239; 262; 261; 224)
(4); (10) HCM TT NXBCTQG H. 1996 (tập 8; Tr 157; 255)
(7) HCM TT NXBCTQG H. 1995 (T4; Tr 166)
(8) HCM TT NXBCTQG H. 1995 (T6; Tr 65)
(11) HCM TT NXBCTQG H. 1996 (T10; Tr578)
(12) HCM TT NXBCTQG H. 1996 (T7; Tr 59)
(13) HCM TT NXBCTQG H. 1996 (T12; Tr 511)
(9) Danh nhân Hồ Chí Minh T1 NXB Lao Động H.2000