(Tiếp theo kỳ 1)
III
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHIỀU VỊ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐỒNG BÀO CẢ NƯỚC QUAN TÂM, CHẤT VẤN
1. Về rà soát, sắp xếp lại các dự án đầu tư
Để kiềm chế lạm phát, Chính phủ chỉ đạo thực hiện đồng bộ 8 nhóm giải pháp, trong đó có việc rà soát, điều chỉnh đầu tư công, đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước; thực hiện triệt để tiết kiệm chi thường xuyên từ nguồn ngân sách. Các đại biểu Quốc hội đều đồng tình với chủ trương này và đề nghị Chính phủ phải chỉ đạo thực hiện một cách kiên quyết. Xin báo cáo Quốc hội như sau:
- Về sắp xếp lại các dự án đầu tư công
Thông thường, khi giá vật tư, thiết bị tăng cao, Chính phủ thường phải cấp bổ sung vốn để bù đắp phần trượt giá, điều chỉnh tăng vốn cho các dự án, công trình đầu tư từ nguồn ngân sách. Năm nay, giá vật tư, thiết bị tăng mạnh hơn các năm trước, nhưng Chính phủ chỉ đạo giữ nguyên tổng mức vốn đầu tư đã phân bổ từ đầu năm, đồng thời, yêu cầu rà soát, cắt giảm, đình hoãn các dự án, công trình chậm hoàn thành, kém hiệu quả, tập trung vốn cho các công trình, dự án hiệu quả, có khả năng hoàn thành sớm trong năm 2008, 2009. Đây là một việc khó, nhưng các Bộ, ngành và địa phương đã thể hiện quyết tâm thực hiện chủ trương này. Đến ngày 28 tháng 5 năm 2008, đã có 28 Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, 43 địa phương và 8 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước báo cáo về số công trình, dự án đình hoãn, ngừng triển khai và giãn tiến độ thực hiện trong kế hoạch năm 2008 là 995 dự án với tổng số vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước là 3.983 tỉ đồng, bằng 7,8% tổng số vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước. Các đơn vị, địa phương đang tiếp tục rà soát với tinh thần tích cực, khẩn trương. Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư đôn đốc, kiểm tra để bảo đảm chấp hành nghiêm chỉ đạo của Chính phủ.
- Về các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ
Chính phủ chủ trương kiên quyết rà soát để đình hoãn các dự án, công trình tuy đã có trong danh mục sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ nhưng chưa chuẩn bị xong thủ tục đầu tư theo quy định. Theo tinh thần trên, sau khi rà soát, tổng mức vốn đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ dự kiến cắt giảm là trên 9.000 tỉ đồng, bằng khoảng 25% kế hoạch năm 2008. Đồng thời, Chính phủ cho phép giải ngân khối lượng hoàn thành vượt mức kế hoạch của các dự án có tiến độ thi công nhanh và xem xét bổ sung vốn đối với các dự án có tiến độ vượt kế hoạch, các công trình có hiệu quả và các công trình trọng điểm về kinh tế - xã hội.
- Về hiệu quả đầu tư
Một số ý kiến đại biểu nhận xét, tình trạng đầu tư kém hiệu quả đã có từ những năm trước đây, hệ số ICOR tăng cao, đề nghị Chính phủ làm rõ nguyên nhân và các giải pháp khắc phục.
Theo một số tính toán, giai đoạn 2002 - 2007, hệ số ICOR của Việt Nam khoảng từ 4,5 - 5,3; như vậy, để làm ra một đồng GDP cần khoảng 4,5 đến 5,3 đồng vốn đầu tư. Hệ số ICOR của nước ta cao hơn một số nước ở giai đoạn phát triển tương đương do những nguyên nhân chủ yếu là:
Những bất cập trong công tác quy hoạch và những yếu kém trong quản lý nên đầu tư còn dàn trải, nhiều công trình kéo dài chậm đưa vào sử dụng, tình trạng lãng phí, thất thoát còn lớn, hiệu quả đầu tư thấp. Tăng trưởng ở nước ta chủ yếu vẫn là theo chiều rộng, tỷ lệ đóng góp của vốn vào tăng trưởng có xu hướng tăng, đóng góp của lao động có xu hướng giảm dần, đóng góp của các nhân tố tổng hợp như tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, quản lý còn thấp.
Thời gian qua, vốn đầu tư vào các lĩnh vực hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn, vùng sâu vùng xa, tuy còn thấp xa so với yêu cầu nhưng vẫn chiếm một tỉ trọng lớn. Đây là việc làm hết sức cần thiết, thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với nông dân và đồng bào vùng khó khăn, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Những công trình này đã góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa, cải thiện điều kiện ăn ở và đi lại của nhân dân, nhưng trong ngắn hạn chưa tạo ra nhanh và nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Để nâng cao hiệu quả đầu tư, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó tập trung vào các biện pháp chủ yếu như: kiểm soát chặt chẽ đầu tư từ nguồn ngân sách và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước; hoàn thiện hệ thống thể chế; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và chất lượng thẩm định; đề cao trách nhiệm của chủ đầu tư và người ra quyết định đầu tư; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng và của xã hội.
2. Về tiết kiệm chi thường xuyên từ nguồn ngân sách
Chính phủ đã chỉ đạo rõ việc tiết kiệm 10% chi thường xuyên trong 8 tháng còn lại của năm 2008 ngoài phần tiết kiệm 10% theo kế hoạch từ đầu năm và đã có nghị quyết riêng về vấn đề này. Bộ Tài chính đã có hướng dẫn cụ thể. Theo báo cáo, số tiết kiệm được dự kiến khoảng 2.700 tỉ đồng.
Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tài chính tiếp tục kiểm tra để bảo đảm thực hiện nghiêm chủ trương này.
3. Về hoạt động của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước
Sau một quá trình sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước, hiện nay cả nước có 8 tập đoàn kinh tế, 96 tổng công ty nhà nước. Các tập đoàn, tổng công ty chủ yếu hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con, trong đó 74% công ty con là công ty cổ phần, đa sở hữu. Theo báo cáo của Bộ Tài chính (trên cơ sở báo cáo của 76 tập đoàn, tổng công ty), kết quả sản xuất kinh doanh năm 2007 của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước so với năm 2006 đạt khá: hầu hết tập đoàn, tổng công ty sản xuất kinh doanh có lãi. Tổng vốn chủ sở hữu là 377 nghìn tỉ đồng, tăng 18% chủ yếu được bổ sung từ lợi nhuận. Tổng tài sản năm 2007 tăng 26%; tổng doanh thu tăng 24%; tổng lợi nhuận tăng 23%; tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đạt 17% (năm 2006 là 16%). Giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ chiếm 40% GDP, đóng góp 28,8% tổng thu nội địa (không kể thu dầu thô và thuế xuất nhập khẩu).
Tuy hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh còn thấp, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn giá cả một số mặt hàng thiết yếu; thực hiện các dự án đầu tư phát triển hạ tầng mà khả năng thu hồi vốn chậm và các nhiệm vụ công ích ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Một số doanh nghiệp xây dựng được thương hiệu có uy tín trên thị trường; đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị và xây dựng được đội ngũ lao động kỹ thuật cao; đảm nhiệm được nhiều công việc trước đây vẫn phải thuê hoặc mua của nước ngoài.
Thời gian gần đây, có một số ý kiến lo ngại về tình hình huy động vốn của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và việc một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước đầu tư nhiều vào kinh doanh bất động sản, chứng khoán và tài chính, ngân hàng, là những lĩnh vực không thuộc ngành nghề chính.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007, tổng số vốn huy động (bao gồm vốn vay trong nước, vay nước ngoài, vay ngắn hạn, dài hạn và các khoản nợ phải trả khác) của 76 tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 514 nghìn tỉ đồng, gấp 1,36 lần vốn chủ sở hữu. Xét về tổng thể là vẫn bảo đảm an toàn về tài chính. Một số doanh nghiệp có mức huy động cao hơn, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính chủ trì kiểm tra, đánh giá đúng thực trạng để có giải pháp thích hợp với từng trường hợp.
Cũng tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007 có 13 tập đoàn, tổng công ty đầu tư vào các quỹ đầu tư chứng khoán và quỹ đầu tư tài chính với tổng giá trị 1.061 tỉ đồng, bằng 0,31% vốn chủ sở hữu và bằng 0,13% tổng giá trị tài sản của các doanh nghiệp này. Có 19 tập đoàn, tổng công ty góp vốn thành lập ngân hàng thương mại cổ phần với tổng giá trị đầu tư 4.426 tỉ đồng, bằng 1,3% vốn chủ sở hữu và bằng 0,55% tổng giá trị tài sản. Có 13 tập đoàn, tổng công ty nhà nước góp vốn thành lập 15 công ty chứng khoán với tổng giá trị đầu tư 420 tỉ đồng, bằng 0,12% vốn chủ sở hữu và bằng 0,05% tổng giá trị tài sản. Có 18 tập đoàn, tổng công ty nhà nước góp vốn đầu tư vào lĩnh vực bất động sản với tổng giá trị đầu tư 1.463 tỉ đồng, bằng 0,43% vốn chủ sở hữu và 0,18% tổng giá trị tài sản của chính các doanh nghiệp này. Xét chung, tổng vốn đầu tư vào 3 lĩnh vực trên là 7.370 tỉ đồng, là con số không nhỏ nhưng không cao so với vốn chủ sở hữu và tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp.
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhận thức rõ rằng, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện đang hoạt động trong các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, nắm giữ một khối lượng lớn tài sản quốc gia, chiếm tỉ trọng cao nợ nước ngoài và nợ các ngân hàng trong nước của khối doanh nghiệp; hiệu quả hoạt động của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước có ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Vì thế, hoạt động của khối doanh nghiệp này cần phải được giám sát chặt chẽ, đánh giá một cách đầy đủ, nghiêm túc, minh bạch thông qua kiểm toán độc lập, tin cậy nhằm nắm chắc thực trạng, có giải pháp kịp thời, phù hợp để khắc phục các yếu kém, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này trong công cuộc phát triển đất nước.
Điều quan trọng là phải khẩn trương xác định rõ hơn các nội dung cụ thể về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, mà lực lượng quan trọng là doanh nghiệp nhà nước, để tránh sự mâu thuẫn, thậm chí tự mâu thuẫn khi sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước trong quá trình thực hiện đường lối của Đảng, đó là: “Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân” và “hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân...”.
Chính phủ đang chỉ đạo chuẩn bị sơ kết việc thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế và xây dựng nghị định về tập đoàn kinh tế nhà nước. Trước mắt, kiểm soát chặt chẽ việc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đầu tư vào kinh doanh chứng khoán, ngân hàng, bất động sản. Đồng thời đẩy mạnh việc sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo kế hoạch đã đề ra, trong đó biện pháp cơ bản là thực hiện có hiệu quả công tác cổ phần hóa, hình thành đa sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động, tăng cường sự giám sát của cổ đông và xã hội, làm cho doanh nghiệp nhà nước thực hiện tốt nhất vai trò, vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, với tư cách là đại diện chủ sở hữu nhà nước phải tập trung chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ này.
4. Về các giải pháp giảm nhập siêu
Là một nước đang phát triển hướng đến mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhập siêu là bình thường nếu ở một tỷ lệ hợp lý. Tuy nhiên tỷ lệ nhập siêu 4 tháng đầu năm nay ở mức 64,7% là quá cao, làm ảnh hưởng xấu đến cán cân thanh toán quốc tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Vì vậy, Chính phủ coi việc giảm nhập siêu là một mục tiêu quan trọng, trong đó biện pháp cơ bản, chủ yếu là tăng mạnh xuất khẩu đồng thời kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu.
Mặc dù thị trường, giá cả thế giới biến động mạnh, xuất khẩu 5 tháng đầu năm tăng 27,2% so với 22% cùng kỳ năm 2007. Nếu chúng ta tiếp tục thực hiện tốt các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy mạnh xuất khẩu, dự kiến xuất khẩu cả năm 2008 có thể tăng khoảng 26% (kế hoạch là 20 - 22%). Đây là mục tiêu rất cao, phải nỗ lực phấn đấu mới đạt được.
Trong 4 tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các nhóm hàng đều tăng so với cùng kỳ 2007. Ngoài nguyên nhân do giá nhập khẩu tăng, nhiều mặt hàng được nhập khẩu với số lượng rất lớn. Cùng với việc thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ làm giảm cầu trong một số lĩnh vực, Chính phủ đã chỉ đạo các ngành chức năng tập trung rà soát và bằng các biện pháp thích hợp, cả về thuế, hàng rào kỹ thuật... để hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng không thiết yếu, những hàng hóa trong nước có thể thay thế được... Theo số liệu ban đầu, nhập khẩu tháng 5 giảm trên 200 triệu USD so với tháng 4. Nhờ xuất khẩu tăng cao, nhập khẩu giảm nên tỷ lệ nhập siêu tháng 5 là 55,3%, tuy vẫn còn cao nhưng đã giảm so với tháng 4 (64,7%).
Chính phủ chủ trương tiếp tục thực hiện có hiệu quả các biện pháp đồng bộ để đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, bảo đảm đủ các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và tiêu dùng, phấn đấu đưa tỷ lệ nhập siêu giảm xuống bằng mức năm 2007 (là khoảng 30%). Để thực hiện tốt chỉ tiêu vĩ mô quan trọng này, góp phần bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đất nước, các doanh nghiệp cần chủ động cân đối nhu cầu và tiến độ nhập khẩu; tích cực khai thác, sử dụng hàng hóa trong nước đã sản xuất được, kiên quyết chống thất thoát, triệt để tiết kiệm nguyên nhiên liệu, năng lượng. Chính phủ yêu cầu các cơ quan, đơn vị và kêu gọi mọi người hưởng ứng, tự giác thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, dành thêm tài lực vào phát triển sản xuất kinh doanh, thiết thực góp phần đưa đất nước vượt qua khó khăn để ổn định và phát triển.
(Còn tiếp một kỳ)