.webp)
Thủy sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn tạo sinh kế vững chắc cho người dân. TP Cần Thơ đang đồng bộ triển khai nhiều giải pháp nâng tầm chuỗi giá trị thủy sản trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Trao đổi với phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Cần Thơ, bà Quách Thị Thanh Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, cho biết:
- Thủy sản là ngành kinh tế trọng điểm thuộc khu vực I của TP Cần Thơ, giữ vai trò then chốt trong việc tạo sinh kế, việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Ngoài ra, ngành còn cung ứng nguồn nguyên liệu dồi dào cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu, tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ khu vực II. TP Cần Thơ sở hữu quy mô sản xuất lớn cùng lợi thế vượt trội về nuôi trồng thủy sản, phát triển cá tra, tôm nước lợ, kết hợp khai thác biển và dịch vụ hậu cần nghề cá. Theo kế hoạch của UBND thành phố, Sở Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò đầu mối, phối hợp với các địa phương tổ chức sản xuất, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững và gắn kết chuỗi giá trị.
.webp)
Chế biến thủy sản xuất khẩu tại một doanh nghiệp trên địa bàn TP Cần Thơ.
* Thưa bà, ngành thủy sản đóng vai trò như thế nào trong mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số của TP Cần Thơ năm 2026 và các chỉ tiêu cụ thể của ngành được xác định ra sao?
- Năm 2026, TP Cần Thơ đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP khoảng 10,07%, trong đó khu vực I (nông, lâm nghiệp và thủy sản) tăng 5,22%. Riêng ngành thủy sản phấn đấu đạt mức tăng trưởng 6,98%, tổng sản lượng cả năm ước đạt 819.055 tấn (sản lượng nuôi trồng đạt 745.555 tấn trên diện tích 96.500ha và sản lượng khai thác đạt 73.500 tấn). Mục tiêu này khẳng định thủy sản tiếp tục là trụ cột đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực I. Trong bối cảnh toàn thành phố quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, ngành nông nghiệp không chỉ giữ vai trò “bệ đỡ” mà phải chủ động nâng cao chất lượng, đáp ứng chuẩn mực xuất khẩu và khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế địa phương. Trong đó, thủy sản chính là mũi nhọn tạo giá trị gia tăng nhanh nhờ đổi mới công nghệ, tối ưu năng suất - chất lượng, đẩy mạnh chế biến sâu và mở rộng thị trường xuất khẩu.
* Thưa bà, đến nay lĩnh vực thủy sản đã đạt được những kết quả cụ thể ra sao?
- Qua hơn 7 tháng đầu năm 2026, sản xuất thủy sản của thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá tích cực, dự báo đạt chỉ tiêu đề ra. Tính đến ngày 7-8, diện tích nuôi đạt 80.547,6ha (bằng 83,5% kế hoạch, tăng 5,7% so với cùng kỳ), tổng sản lượng nuôi đạt 456.741 tấn (bằng 61,3% kế hoạch, tăng 7,7%). Trong đó, cá tra đạt 205.823 tấn, tôm nước lợ đạt 128.803,9 tấn, còn lại là cá nước ngọt và thủy sản khác (122.114,5 tấn). Sản lượng khai thác đạt 56.756 tấn, bằng 77,2% kế hoạch. Tổng sản lượng chung đạt 513.497 tấn, bằng 62,69% kế hoạch và tăng 8,68% so với cùng kỳ. Để cán đích kế hoạch 819.055 tấn của cả năm 2026, trong các tháng cuối, cần phấn đấu đạt và vượt 305.558 tấn, bao gồm khoảng 288.814 tấn sản lượng nuôi và 16.744 tấn khai thác.
* Xin bà cho biết ngành Nông nghiệp và Môi trường thành phố cùng các bên liên quan đang triển khai những giải pháp trọng tâm nào để thực hiện đạt các mục tiêu đề ra?
- Chúng tôi đã chủ động tham mưu UBND thành phố các giải pháp phát huy tối đa lợi thế các đối tượng nuôi chủ lực có giá trị kinh tế cao như cá tra, tôm thẻ chân trắng, tôm sú và các loài thủy đặc sản; đồng thời khuyến khích đa dạng hóa mô hình nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương và nhu cầu thị trường. Đặc biệt, tư duy sản xuất thủy sản của thành phố đang chuyển dịch mạnh mẽ từ tăng trưởng về lượng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Trọng tâm là xây dựng các vùng nuôi đạt chuẩn an toàn, thực hành nuôi tốt, gắn với truy xuất nguồn gốc; đẩy mạnh liên kết chặt chẽ giữa người nuôi với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa sản xuất và bảo vệ môi trường sinh thái.
Những tháng cuối năm 2026, ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ theo dõi sát diễn biến thị trường, thời tiết, môi trường và dịch bệnh để kịp thời hướng dẫn người nuôi tổ chức sản xuất phù hợp. Mục tiêu cốt lõi là giữ vững đà tăng trưởng, kiểm soát tốt giá thành, nâng cao năng suất và chất lượng, đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng chung của toàn thành phố.
* Thưa bà, trước những biến động về chi phí đầu vào, ngành Nông nghiệp và Môi trường thành phố có giải pháp gì để đồng hành, tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp?
- Đây là vấn đề ngành đặc biệt quan tâm, bởi giá thức ăn, con giống, thuốc thú y, điện, nhiên liệu... đang tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất của cả người nuôi lẫn doanh nghiệp. Quan điểm xuyên suốt của chúng tôi là chuyển từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” - không chạy theo sản lượng bằng mọi giá mà tập trung hạ giá thành trên từng đơn vị sản phẩm và tối ưu hóa lợi nhuận. Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành đang tập trung vào 3 nhóm giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, đẩy mạnh tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và nhân rộng các mô hình hiệu quả; hướng dẫn người nuôi tối ưu hóa chi phí đầu vào, đặc biệt là khâu quản lý thức ăn. Việc cho ăn phải căn cứ đúng nhu cầu, đúng giai đoạn sinh trưởng để kiểm soát tối ưu hệ số chuyển đổi thức ăn , tránh dư thừa gây lãng phí và giảm chất thải ra môi trường.
Thứ hai, thúc đẩy liên kết sản xuất, khuyến khích người dân chuyển từ sản xuất riêng lẻ sang mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị. Khi hình thành vùng sản xuất quy mô lớn, người nuôi có thể tiếp cận vật tư đầu vào với giá sỉ ưu đãi, đồng thời nâng cao năng lực đàm phán khi liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp.
Thứ ba, ngành khuyến khích nhân rộng các mô hình nuôi thích ứng hiệu quả theo từng tiểu vùng sinh thái như nuôi thủy sản kết hợp, nuôi cá ruộng mùa lũ, nuôi xen ghép... cùng các mô hình sử dụng tiết kiệm nước, thức ăn nhằm kéo giảm tối đa chi phí đầu vào.
* Xin cảm ơn bà!
KHÁNH TRUNG (ghi)