ÐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước, nơi cung cấp phần lớn lượng lúa gạo, thủy sản và nhiều loại trái cây phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, các lợi thế về điều kiện khí hậu, đất đai và nguồn nước để phục vụ sản xuất nông nghiệp của vùng đang dần bị biến đổi, thậm chí mất đi do tác động của biến đổi khí hậu (BÐKH), nước biển dâng và các hoạt động khai thác từ thượng nguồn sông Mekong, cũng như do các bất cập từ hoạt động nội tại của vùng. Ðể ổn định và phát triển bền vững cho vùng ÐBSCL thì việc đẩy mạnh thực hiện các định hướng chỉ đạo và giải pháp “thuận thiên” theo Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững ÐBSCL thích ứng với BÐKH (Nghị quyết 120) là rất cấp thiết .

BĐKH và xâm nhập mặn đang gây nhiều tác động tiêu cực cho sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL. Trong ảnh: Ao nhân tạo trữ nước ngọt phục vụ trồng trọt tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Đối mặt thách thức
Vùng ÐBSCL đã và đang phải chịu nhiều tác động do BÐKH, nước biển dâng, xâm nhập mặn ngày càng sâu vào đất liền gây thiếu nước ngọt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh, nhất là ảnh hưởng đến diện tích sản xuất và năng suất cây trồng. BÐKH cùng với các hoạt động khai thác ở thượng nguồn sông Mekong cũng làm gia tăng các hiện tượng cực đoan về thời tiết và thủy văn như mưa bão, lũ lụt, hạn hán và gia tăng tình trạng xâm nhập mặn, sụp lún đất và sạt lở bờ sông, bờ biển. Ngoài yếu tố thời tiết, những yếu tố chủ quan cũng đang làm hạn chế sự phát triển của vùng ÐBSCL và các yếu tố này cũng đã được các cơ quan quản lý nhà nước và nhiều chuyên gia nghiên cứu, đúc kết và chỉ ra. Cụ thể như, đất đai bị suy thoái và tình trạng ô nhiễm môi trường, nguồn nước do thâm canh phát triển sản xuất lúa và phát triển các hệ thống đê bao ngăn lũ, ngăn mặn ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên của vùng và sự đa dạng sinh học. Ngoài ra, sự gia tăng dân số và thay đổi nhu cầu sử dụng thực phẩm của người tiêu dùng cũng đặt ra nhiều vấn đề trong đảm bảo sinh kế cho người dân ÐBSCL gắn với việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
ÐBSCL với diện tích tự nhiên chỉ chiếm 12% diện tích cả nước nhưng đã cung cấp trên 56% sản lượng lúa và đóng góp đến 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Theo Ths Nguyễn Hữu Thiện, Chuyên gia độc lập về sinh thái ÐBSCL, an ninh lương thực về lâu dài bị đe dọa nghiêm trọng vì sức khỏe đất đai đang bị vắt kiệt cho mục đích tối đa hóa sản lượng trong hơn 3 thập niên vừa qua. Ðặc biệt, đất đai bị suy thoái do làm lúa liên tục 3 vụ và hệ thống đê bao khép kín không nhận phù sa vào để cung cấp dinh dưỡng cho đất. Bên cạnh đó là tình trạng ô nhiễm môi trường do tăng cường sử dụng các loại phân bón và hóa chất trong nông nghiệp, đồng thời giảm đa dạng sinh cảnh và sự rối loạn các tiến trình sinh thái. Cùng với các hoạt động phát triển ở thượng nguồn, tình trạng thiếu không gian hấp thu lũ ngay tại ÐBSCL, mất liên lạc giữa sông, biển và đất liền do đê bao, cống đập ngăn lũ và ngăn mặn cho đồng ruộng, vườn cây ăn trái… đã làm mất ảnh hưởng của thủy triều, gây ô nhiễm sông rạch và làm giảm nguồn thủy sản trong tự nhiên. Nguyên nhân do các loài thủy sản bị suy giảm do mất môi trường sống và nguồn thức ăn ở vùng ngập lũ, vùng nước lợ và cả tại các vùng biển tiếp giáp đất liền.
Sản xuất phải “thuận thiên”
ÐBSCL đang phải đối mặt cùng lúc 3 nhóm vấn đề thách thức lớn, gồm thách thức từ BÐKH và nước biển dâng, thách thức do bất cập từ hoạt động nội tại của vùng, thách thức từ các tác động bên ngoài do các hoạt động ở thượng nguồn sông Mekong. Theo các chuyên gia, trong các nhóm thách thức trên, chúng ta hoàn toàn có thể chủ động khắc phục các hạn chế từ nội tại, từ đó nâng cao năng lực ứng phó và giảm được các tác động tiêu cực từ bên ngoài và của BÐKH, nước biển dâng.
Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện cho rằng, để giải quyết khó khăn và hạn chế từ nhóm vấn đề nội sinh của vùng ÐBSCL, nhiệm vụ trọng tâm là phải thay đổi chiến lược phát triển nông nghiệp, không chỉ thay đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng mà cần một sự thay đổi toàn diện mang tính chuyển hóa. Cụ thể, cần từ bỏ chiến lược nông nghiệp dựa vào đầu vào cao, sản lượng cao, chuyển sang nông nghiệp ít thâm canh, giá trị cao, xây dựng chuỗi giá trị, ít can thiệp thô bạo vào tự nhiên theo tinh thần “thuận thiên” của Nghị quyết 120. Duy trì sức khỏe đất đai để duy trì an ninh lương thực bền vững lâu dài, chứ không phải dựa vào lượng lúa gạo chứa trong kho hay xuất khẩu. Phát huy khả năng tự điều tiết của ÐBSCL, đặc biệt là khả năng thau rửa, làm sạch bằng nước mưa, qua các cơ chế thủy triều và nhờ nước ngọt thông qua cơ chế ngập lũ.
Theo TS Dương Văn Ni, Giảng viên Khoa môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, Trường Ðại học Cần Thơ, việc phục hồi, giữ gìn sự đa dạng sinh học cho vùng ÐBSCL cũng là vấn đề rất cấp thiết nhằm tạo sinh kế ổn định và bền vững cho người dân. Bảo tồn đa dạng sinh học không chỉ là bảo tồn các loại động vật hoang dã như sếu đầu đỏ hay cá heo nước ngọt trên sông Mekong… mà cần chú ý sự đa dạng trên đất nông nghiệp để có những sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, có giá trị kinh tế cao và ưu thế cạnh tranh trên thị trường. Ðây là vấn đề rất quan trọng, nhưng đôi khi chúng ta còn bỏ quên. Do chạy theo những giống cây trồng vật nuôi có năng suất cao, thành thử ra nhiều giống cây trồng truyền thống của địa phương bị mai một. Ðơn cử, ngày xưa, về mận ta có rất nhiều giống mận tại ÐBSCL nhưng hiện nay không nhiều, trên cây lúa cũng vậy, trước kia ông cha ta đã tuyển chọn ra gần 3.000 giống lúa mùa và mỗi giống thích nghi từng vùng đặc thù khác nhau.
Theo phân tích, đánh giá của nhiều chuyên gia, dù ÐBSCL đứng trước một thực trạng rất đáng lo ngại nhưng tin tưởng ÐBSCL sẽ hướng tới một tương lai thịnh vượng. Bởi người dân tại vùng ÐBSCL không chỉ cần cù, sáng tạo và luôn nỗ lực vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn mà các cấp Ðảng và chính quyền Trung ương cũng luôn quan tâm hỗ trợ vùng và đã kịp thời có những quyết sách cho sự phát triển bền vững. Ðặc biệt, Nghị quyết 120 đã đề ra các định hướng, giải pháp rất căn cơ nhằm khắc phục các hạn chế trong nội tại của vùng, nhất là quan tâm thay đổi tư duy, chiến lược phát triển nông nghiệp để đạt hiệu quả bền vững. Chuyển đổi sản xuất nông nghiệp thuần túy, với sự tập trung chủ yếu cho lúa sang nông nghiệp đa dạng, đáp ứng các yêu cầu về số lượng và chất lượng gắn với thị trường và ứng dụng công nghệ cao gắn với chuỗi giá trị. Tôn trọng quy luật tự nhiên, chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững. Phát triển hàng hóa chất lượng cao, giá trị kinh tế cao với 3 trọng tâm: thủy sản - trái cây - lúa gạo phù hợp tiềm năng, lợi thế từng tiểu vùng và xu hướng nhu cầu thị trường…
Bài, ảnh: KHÁNH TRUNG