Hôm nay là ngày đầu năm mới 2008. Xin không nói chủ yếu về năm cũ, dù nó vừa lui vào lịch sử được mấy tiếng đồng hồ, mà chỉ phác họa đôi nét theo nhãn quan của một người làm báo về năm mới đang tới và có thể xa hơn.
Như một cuộc chạy marathon đường dài, năm 2007 qua đi để lại những dấu ấn khó phai mờ. Đó là lần đầu tiên sau nhiều năm, chúng ta đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) gần 8,5% với giá trị tuyệt đối hơn 71 tỉ USD, bình quân đầu người cỡ 835 USD; huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, cả vốn FDI và vốn vay ODA, kim ngạch xuất khẩu cũng đạt những con số cao nhất. Các cân đối vĩ mô nói chung bảo đảm được, trừ việc ta bị nhập siêu đến 10 tỉ USD và giá cả tăng đột biến vào những tháng cuối năm là đáng lưu tâm một cách nghiêm túc. Đó là những nguồn lực rất quan trọng được năm 2008 tiếp thu nhằm cùng các nguồn lực mới bảo đảm cho đất nước và nền kinh tế tiếp tục phát triển nhanh và bền vững.
Tuy nhiên, chúng ta không thể chủ quan, điềm nhiên tọa thị, vì quy mô nền kinh tế của ta còn nhỏ; GDP bình quân đầu người còn thấp; năng suất, chất lượng, hiệu quả chưa cao; sức cạnh tranh chung và từng ngành kinh tế đều rất yếu; lĩnh vực nào, khu vực kinh tế nào cũng bộc lộ những bất cập rất cơ bản cho trước mắt và cả lâu dài. Sau đây xin nêu một số điều cần bàn, và nếu ai nấy đều thấy là quan trọng, thì có thể kiến nghị với các cấp quản lý vĩ mô, may ra trở thành những vấn đề phải giải quyết ngay trong chương trình nghị sự của Chính phủ.
 |
|
Trung tâm Học liệu - Trường Đại học Cần Thơ, nơi luôn thu hút đông đảo sinh viên đến học tập, nghiên cứu khoa học. Ảnh: BÍCH NGỌC |
Trước hết, xin nói về nguồn lực cơ bản của nước ta. Theo tôi, đó là tài nguyên hiện hữu và tiềm tàng trên mặt đất, trong lòng đất, trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của nước ta trên biển Đông, bao gồm cả các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Đó là các nguồn vốn vay ODA, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng tăng nhanh mà ta quản lý và sử dụng chưa thật hiệu quả. Đó là sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kể cả của bà con ta ở nước ngoài. Nhưng có một điều mà ai cũng biết là các nguồn lực vật chất khai thác mãi rồi cũng cạn kiệt, chỉ có tài nguyên con người là vô tận. Lâu nay, ta thường cứ nghĩ một chiều rằng nhân dân ta có truyền thống hiếu học, dân tộc ta là một dân tộc trẻ, thông minh, tiếp thu nhanh cái mới... thì có thể nhanh chóng hội nhập nhanh với thế giới. Điều đó có thể không sai, nhưng vì sao nguồn nhân lực ấy không theo kịp tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nước nhà? Vấn đề nổi cộm bậc nhất của nhiều năm qua chính là sự thiếu hụt trầm trọng đội ngũ lao động có chất lượng hầu như trong mọi ngành, mọi lĩnh vực, từ cấp quản lý nhà nước cho đến quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là đội ngũ lao động có tay nghề, có kỹ năng chuyên môn cao. Ngay câu nói “thừa thầy mà thiếu thợ” cũng không còn trúng nữa. Nghĩa là ta đang thiếu cả thầy giỏi lẫn thợ giỏi ở mọi nơi.
Có một thực tế là ai cũng thừa nhận có sự yếu kém đó, nhưng tìm cho ra nguyên nhân gốc để “bốc thuốc” cho trúng cũng không đơn giản chút nào. Hỏi rằng vì sao nước Philippines láng giềng có hàng triệu lao động xuất khẩu mỗi năm, còn ta tổ chức cho vài chục nghìn người đi đã rất lúng túng? Cho hay, cái thời lao động rẻ là một ưu thế đã qua lâu rồi, tiếc thay nhiều cán bộ chúng ta vẫn chưa tỉnh ngộ! Nếu chỉ bán sức lao động cơ bắp mãi thì làm sao làm giàu cho được! Thời gian qua, trong cải cách hành chính, Nhà nước chỉ tập trung sắp xếp bộ máy (mà cũng không gọn được bao nhiêu), còn con người là vấn đề căn gốc nhất thì có vẻ giản đơn. Với 86 triệu dân, 40 triệu lao động, số người giỏi không phải thiếu lắm, nhưng xã hội sử dụng họ như thế nào? Có lẽ bao giờ Nhà nước có chính sách coi trọng người tài thích đáng, mọi người có cơ hội học tập ngang bằng nhau, cơ hội cống hiến bình đẳng, mới có thể thúc đẩy lớp trẻ học thực, làm việc hết lòng. Một tương lai như vậy mới thúc đẩy nhiệm vụ giáo dục - đào tạo đàng hoàng, sản phẩm của ngành này sẽ được xã hội thu nạp hết. Tôi cho rằng ý đồ nâng học phí hoàn toàn không đồng nghĩa với chất lượng giáo dục - đào tạo hơn lên. Càng không thể đổ tiền của để đào tạo một loạt tiến sĩ (cũng không ai kiểm tra xem số tiến sĩ này có thực chất hay không) mà quên đào tạo căn cơ một lực lượng lao động có tay nghề cao đông đảo. Không thể chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng khu vực mà chỉ trông vào số lượng kỹ sư, tiến sĩ! Không thể đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn mà lại thiếu đội ngũ lao động có kỹ năng chuyên môn cao. Lâu nay có hiện tượng chạy theo bằng cấp, nhưng sẽ là vô nghĩa nếu ai đó có văn bằng mà kỹ năng kém thì cũng khó được tuyển dụng. Thị trường sẽ là người tuyển chọn và đào thải người lao động. Trên đây là mấy suy nghĩ về nguồn nhân lực của chúng ta.
Vấn đề thứ hai, theo tôi, cũng đang là vấn đề bức xúc và rất nhạy cảm về chính trị không thể xem thường. Đó là sự phân hóa giàu- nghèo trong xã hội đang diễn ra với tốc độ khá nhanh, mặc dù công cuộc xóa đói, giảm nghèo đạt không ít kết quả. Chỉ cần chú ý quan sát đời sống xã hội một chút, ta có thể hỏi: có phải mọi giai tầng trong xã hội đều được thụ hưởng thành quả của sự nghiệp đổi mới này hay không? Hay nói một cách khác: ai đã phất lên nhanh trong thời gian từ cuối những năm 80 đến nay, và ai đang là tầng lớp cùng cực nhất trong thời gian đó? Để có một đánh giá chính xác, trúng sự thật rất cần có cuộc điều tra xã hội học tin cậy, nhưng chỉ cần nhìn khái quát ta cũng có thể sơ bộ thấy rằng khu vực nông thôn, vùng rừng núi cao, nhất là vùng sâu, vùng xa, đời sống còn rất nhiều cơ cực. Mảng nông thôn, không kể phải hứng chịu thiên tai, dịch bệnh, mà chỉ một trận “cuồng phong” về giá (xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu, hàng công nghệ phẩm...) tràn qua, thì không biết có bao nhiêu gia đình lâm vào cảnh điêu linh, khốn đốn? Một trận dịch tràn qua, có bao nhiêu con trâu, bò, gà, vịt, tôm, cá, trái cây... chết, và đi liền với nó là, bao nhiêu cảnh đời rơi vào nợ nần chồng chất? Chỉ có những ai vô cảm trước cuộc đời này, mới không xót xa cho thân phận của bà con nông dân nói chung. Vâng, họ đang là giai cấp khốn khổ nhất hiện nay. Có ai thống kê được ở nông thôn có bao nhiêu loại phí bổ vào đầu họ? Đã vậy, sắp tới còn chịu tăng học phí nữa thì làm sao người nghèo chịu thấu? Thôi đành bỏ học về làm ruộng mà thôi. Mà đã dốt thì cái nghèo đeo đẳng mãi. Cái vòng lẩn quẩn như một định mệnh của nông dân! Đã vậy còn bị cái nạn phải “bán đất” cho các vùng quy hoạch để đi lên công nghiệp hóa. Ờ thì cũng có đền bù, nhưng với giá quá bất hợp lý (y như bán rẻ chớ có gì khác đâu!) để rồi trắng tay, trong khi nghề ngỗng mới chưa được đào tạo gì, đành phải bán sức lao động để sống chứ biết làm sao. Thế mà rất nhiều nơi cứ quy hoạch treo đó một cách hết sức vô lý và nhẫn tâm nữa.
Thế ai là những người giàu lên trong hơn 25 năm qua? Người ta bảo cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước chỉ làm giàu cho các ông trong ban giám đốc mà thôi. Tôi không có những số liệu trung thực về hiệu quả làm ăn của các tập đoàn kinh tế của nước ta, nhưng tôi biết hơn 2.000 doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trong tay hơn 70% nguồn lực, trong đó hơn 50% vốn đầu tư, 70% vốn ODA, hơn 60% vốn vay ngân hàng, 70% đất đai. Có thể nói: doanh nghiệp nhà nước được ưu đãi đủ thứ từ con người, công nghệ, thị trường đến quyền kinh doanh... Trong khi đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung là doanh nghiệp dân doanh hết sức đông đảo nhưng chỉ có một nguồn lực nhỏ bé. Phải nhìn thẳng vào sự thật là hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước không cao, thậm chí Nhà nước phải bù lỗ (bằng tiền thuế của dân). Cạnh tranh không bình đẳng trong cùng một sân chơi như vậy thì làm sao phát triển được. Có thể nói khi nào còn lối tư duy theo hướng Nhà nước phải độc quyền cái này cái nọ thì sự nghiệp đổi mới còn bị trì níu, và còn lâu mới có thể trở thành một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa. Cái sự phất lên của ai đó chính từ sự nhùng nhằng trong tư duy của không ít người có quyền ra chính sách, có quyền ban phát của cải của nhân dân, có quyền tái phân phối tài sản toàn dân... Con mắt của nhân dân soi thấu một thực trạng là rất nhiều người trong bộ máy công quyền giàu ghê gớm, (vâng, từ của tham nhũng chứ ở đâu ra), chứng tỏ cuộc đấu tranh chống tham nhũng lâu nay không có kết quả bao nhiêu. Thiết nghĩ, nếu không làm cho sự chênh lệch giàu - nghèo hẹp lại thì sẽ là vấn đề chính trị không thể xem thường.
Vấn đề thứ ba, chúng ta thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa mà cái nền cần xây dựng trước hết là kết cấu hạ tầng, nó vừa là cái cốt vật chất, vừa là động lực của một xã hội hiện đại. Đáng tiếc, từ quy hoạch vĩ mô đến quy hoạch vùng, cả đến quy hoạch từng doanh nghiệp đều không đồng bộ chỉ do tầm nhìn thiển cận mà ra. Vì sao giờ đây hầu như các thành phố, đô thị khắp cả nước đều phải sống chung với ngập lụt, với nạn kẹt xe, tắc đường, với nạn ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng? Tôi bắt đầu nghĩ tới một khuynh hướng mới xuất hiện gần đây là người ta chăm bẳm chỉ lo chỉ tiêu tăng trưởng mà ít chú ý chất lượng của nó và chất lượng cuộc sống, thì tăng như vậy liệu có ý nghĩa bao nhiêu? Vì sao trong hoàn cảnh hòa bình mà mỗi năm có hơn 10.000 người chết vì tai nạn giao thông, vì sao lại xuất hiện nhiều bệnh lạ; vì sao hiện tượng xoáy lở các triền sông, triền núi dày hơn, gây thảm họa cho dân lành... Nếu đội ngũ công bộc của dân thành tâm lo cho dân, có tầm nhìn xa trong mọi quy hoạch xây dựng thì rừng vàng của chúng ta không bị tàn phá nặng nề, chắc chắn tài sản của dân không bị lãng phí, thất thoát nhiều như vậy, và cũng không phải sống chung với nhiều tai họa đến vậy (!). Vâng, kết cấu hạ tầng yếu kém đang là vật cản của tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nước nhà, và cũng là vật cản của cuộc sống văn minh... Trong một dịp khác, người viết sẽ trình bày tiếp về những vấn đề căn cơ mà chúng ta cần hoàn thiện, như vấn đề cải cách nền hành chính nhà nước; hoàn thiện thể chế phù hợp với vai trò là thành viên WTO, thành viên HĐBA Liên Hiệp Quốc...
Suy cho cùng, mọi sự thay đổi đều bắt đầu từ đổi mới nhận thức của chúng ta. Thí dụ, bao giờ còn lấn cấn trong đầu rằng nền kinh tế bị phân biệt của ta, của họ, của nó, bị phân biệt con ruột, con nuôi, thì khó có thể huy động sức mạnh chung cả dân tộc. Thí dụ, khi nào chưa luật hóa được sự lãnh đạo của Đảng đối với mọi mặt hoạt động của đời sống xã hội, thì khi đó còn có sự lấn sân, lạm quyền, giẫm đạp lên quyền hạn và nghĩa vụ của nhau. Thí dụ, khi nào quyền lợi của quốc gia, dân tộc là thiêng liêng, tối thượng đối với mọi công dân, chứ không phải của riêng ai, riêng tập thể, cộng đồng nào, thì sức mạnh của chúng ta sẽ có thể được huy động tối đa, mà không cần phải hô hào, hiệu triệu. Chừng nào chúng ta thật sự coi trọng trong thực tế quyền hạn và trách nhiệm của mọi công dân, tạo cơ hội bình đẳng về học tập, lao động, cống hiến cho mọi người, thì dân mới được làm giàu chính đáng, đất nước mới hùng cường, xã hội mới công bằng, dân chủ, văn minh.
NGUYỄN KIẾN PHƯỚC