Tại Triển lãm Hàng không Vũ trụ Quốc tế Berlin (Đức) mới đây, tâm điểm chú ý thuộc về các hệ thống tác chiến tự hành thế hệ mới: những máy bay được tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) để hoạt động cùng các tiêm kích có người lái.

Boeing trưng bày mẫu máy bay MQ-28 Ghost Bat tại triển lãm Berlin. Ảnh: Reuters
Sự trỗi dậy của CCA
Cuộc xung đột tại Ukraine đã cho thấy vai trò quyết định của máy bay không người lái (UAV), tác chiến điện tử và khả năng xử lý thông tin nhanh chóng. Việc làm gián đoạn các hệ thống cảm biến và liên lạc của đối phương quan trọng không kém các cuộc tấn công trực tiếp bằng hỏa lực. Giới hoạch định quốc phòng châu Âu nhanh chóng tiếp thu bài học này và ngày càng quan tâm đến máy bay tác chiến cộng tác (CCA).
Được thiết kế để phối hợp với các chiến đấu cơ có phi công, CCA mang theo cảm biến, thiết bị tác chiến điện tử và vũ khí, đồng thời mở rộng tầm hoạt động cũng như khả năng sống sót của máy bay có người lái.
Các công ty Airbus, Boeing, Helsing và General Atomics đã giới thiệu những thiết kế mới nhất của mình tại Berlin vừa rồi. Các mẫu máy bay này có kích thước đa dạng, từ những hệ thống đánh chặn tương đối nhỏ đến các nền tảng phản lực lớn hơn.
Amy List, Giám đốc điều hành Boeing tại Úc, mô tả MQ-28 Ghost Bat là một máy bay phản lực không người lái, chứ không phải UAV truyền thống, nhấn mạnh vai trò của nó trong việc nâng cao hiệu quả tác chiến của các tiêm kích có phi công. Boeing đang hợp tác với tập đoàn Rheinmetall của Đức để tiếp thị và có khả năng sản xuất hệ thống này cho các khách hàng châu Âu.
Đến nay, chưa có mẫu CCA nào chính thức đi vào biên chế quân sự. MQ-28 Ghost Bat có thể được bàn giao cho Không quân Đức vào năm 2029, trong khi nền tảng U760B Ravenstorm của Airbus dự kiến vận hành vào thập niên 2030. General Atomics cũng đang thúc đẩy chương trình YFQ-42A, dự án mà Không quân Mỹ đã chọn để nhận hỗ trợ phát triển nguyên mẫu hồi năm 2024.
Tự chủ chiến lược
Quá trình phát triển CCA cũng phản ánh cuộc tranh luận rộng lớn hơn tại châu Âu về tự chủ quốc phòng và nhu cầu giảm phụ thuộc vào công nghệ quân sự của Mỹ.
Đối với các nhà hoạch định chính sách ở Brussels, Paris và Berlin, đây là một sự chuyển dịch quan trọng. Trong nhiều thập kỷ, châu Âu đã gặp khó khăn trong việc dung hòa tham vọng tự chủ chiến lược với sự phụ thuộc vào công nghệ quốc phòng Mỹ. Mặc dù hợp tác xuyên Đại Tây Dương vẫn là yếu tố then chốt, những bất ổn địa chính trị gần đây đã thúc đẩy lập luận cho rằng châu Âu phải củng cố nền tảng công nghiệp của chính mình.
Cùng với những lo ngại do cuộc chiến Nga - Ukraine, sự khó lường của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đã khiến nhu cầu tự chủ an ninh của châu Âu trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Trong năm qua, ông Trump đã nhiều lần ám chỉ có thể rút Mỹ khỏi Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Động thái gần đây của Mỹ về việc rút 5.000 binh sĩ khỏi Đức và những lo ngại liên quan các hành động của Washington tại Iran càng củng cố yêu cầu về độc lập chiến lược của châu Âu.
Hệ thống CCA có thể mang lại cơ hội đó. Không giống các dự án quốc phòng đa quốc gia quy mô lớn vốn thường bị trì hoãn bởi những ưu tiên quốc gia khác nhau và sự cạnh tranh công nghiệp, các hệ thống tự hành cung cấp con đường phát triển năng lực linh hoạt hơn.
Đức và Pháp gần đây đã gác lại kế hoạch hợp tác chế tạo tiêm kích thế hệ thứ sáu, song hai nước vẫn cam kết rằng phát triển các công nghệ UAV và kiến trúc số sẽ là nền tảng cho các hoạt động không quân trong tương lai.
Quá trình tái vũ trang của châu Âu đang diễn ra mạnh mẽ. Các thành viên NATO cần thực hiện cam kết đến năm 2035 nâng chi tiêu quốc phòng hằng năm lên 5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), từ mức 2% hiện tại. Nhưng trong năm 2025, tổng ngân sách quốc phòng của châu Âu và Canada đạt 574 tỉ USD, tăng gần 20% so với năm trước. Đây là mức tăng hằng năm mạnh nhất trong vòng 7 thập niên.
HẠNH NGUYÊN (Theo Reuters, Defence Matters)