Truyện ngắn: Hồ Kiên Giang
Tía kể ngày má sanh chị, miền ven biển Tây trải qua nỗi đau bão Lin-da. Hôm ấy, trận cuồng phong trăm năm có một gầm rú, trút những trận mưa xối xả, liên miên; gió quét mạnh đổ rạp những đồng lúa đang chín rộ trong sóng nước biển tràn vào. Thấy xóm giềng chìm trong hoạn nạn, tía chống chắn nhà cửa xong, ôm phao theo xuồng cứu hộ của ủy ban xã đi cứu người. Má ở nhà với bụng bầu vượt mặt.
Ai dè, nửa đêm má đau bụng dữ dội. Cũng may kế nhà có dì Hai Cúc là mụ vườn, nghe tiếng má kêu, đã lội nước ngập tới lưng qua đỡ đẻ cho má. Giữa tiếng gió rít gào bẻ gãy những ngọn tràm và tiếng sóng vỗ oàm oạp vào vách đất, chị khóc oa oa chào đời. Do thiếu gần một tháng nên chị chỉ nặng chừng hai ký rưỡi. Dì Hai nhìn chị nhỏ xíu, tặc lưỡi ái ngại: “Con nhỏ yếu quá, không biết có qua nổi mùa nước sặc này không?”. Má thở hổn hển, gương mặt xám ngắt vì kiệt sức nhưng nói chắc nịch: “Đứa con đầu lòng… em nuôi được!”.
Bão tan, tía về. Vừa bước vô cửa thấy má nằm trên giường cho chị bú, lật đật chạy tới bên hai má con: “Mèn đét ơi, sao không nhắn anh về? Mình em vầy sao cáng đáng nổi?”. Má lườm tía một cái dài thượt: “Anh đi cứu hộ mà muốn kêu giờ nào thì kêu sao được. Mà nước ngập đầy đồng, muốn nhấn chìm nhà cửa, nhắn rồi anh có bay về được đâu. May có chị Hai Cúc chớ nửa đêm em không biết kêu ai!”. Tía cười khà khà: “Ừ, để anh bồng con gái cưng cái coi”. Má nhìn tía ẵm chị, đôi bàn tay chai sần vì cầm cuốc cầm phảng cứ vụng về đỡ lấy sinh linh bé bỏng, ánh mắt rạng ngời hạnh phúc.
Hơn tuần sau, khi nước rút dần, má dò dẫm bước ra sau nhà nhìn cái ao bị bão đánh làm vạt năn tượng tróc gốc chết đen kịt, lòng má thắt lại. Má gắn bó với loài cỏ năn tượng gần mười năm, từ hồi mười lăm tuổi theo bà ngoại lội sình cắt về phơi khô để đươn nón, đươn giỏ xách đem ra chợ huyện đổi lấy ký muối, miếng thịt nuôi gia đình. Khi theo tía về làm dâu, má đem theo nghề đươn năn tượng. Vậy mà bão quét sạch sành sanh. Đang buồn rượi bởi không còn nguyên liệu kiếm cơm, bất chợt nhìn kỹ sâu dưới lớp sình non xám xịt bắt đầu lắng phèn, má thấy nhú lên những chồi năn mới xanh mướt, nhỏ nhoi nhưng nhọn hoắt hướng thẳng lên trời đón nắng. Loài cây dại này dù bị giông bão dập vùi, gốc rễ vẫn bám sâu vào lòng đất chờ ngày hồi sinh. Má chộn rộn niềm vui lạ lùng và quyết định đặt tên chị.
Một bữa, tía đi giúp bà con dọn dẹp nhà cửa sau bão về tới nhà, vừa nựng chị vừa hỏi má: “Em đặt tên cho con chưa?”. “Rồi. Võ Thị Năn Tượng, anh thấy được không?”. Tía cười ngất: “Mèn ơi, con gái con lứa phải kiếm cái tên đèm đẹp như Lan, Huệ, Trúc, Mai, chớ ai lại quê mùa vậy”. Má cười theo nhưng ánh mắt kiên định: “Ý em là mong muốn con mạnh giỏi, dù bị giông bão vùi dập vẫn sinh sôi. Con sanh thiếu tháng mà...”. Chính cái tên ấy mà hồi chị đi học, mỗi khi thầy cô kêu trả bài làm cả lớp cười rần. Nhưng chị chẳng buồn vì biết cái tên quê mùa ấy xuất phát từ loài cây đã giúp má có nghề nuôi nấng chị trong những tháng năm gian khó.
***

Hồi "phong trào" bỏ lúa nuôi tôm tự phát lan rộng, đời sống miền quê tuy khởi sắc nhưng vẫn chông chênh. Trước tình hình trồng lúa bấp bênh bởi nước luôn trong trạng thái mặn - ngọt theo mùa, có khi chuyển mặn cả năm, vụ trúng thì ít mà thất bát thì nhiều, tía nghe lời rủ rê của ông Tám trong xóm, quyết định sên ruộng để nuôi tôm quảng canh.
Tía thủ thỉ: “Anh nghe chú Tám nói đất nước mình đang hội nhập, tôm xuất khẩu đi cả thế giới. Một ký tôm hơn hai chục ký lúa, biết đâu mình đổi đời”. Má cản liền: “Nào giờ anh có biết kỹ thuật gì đâu, tiền mua con giống phải đi vay đi mượn, lỡ con tôm có mệnh hệ gì, sao gánh nổi nợ nần”. Nhưng tía đã quyết và muốn chứng minh cho má thấy nên đêm nào tía cũng chong đèn lật cuốn tập ghi ghi chép chép. Tía cân đong đo đếm tỷ lệ, độ pH theo con nước, thời tiết… Lại thêm từ kinh nghiệm nhiều năm, ông Tám chỉ tía tường tận từ xả cạn ruộng, vét sình non đến phơi đất diệt mầm bệnh, rải vôi khử chua. Ông dặn thêm: “Mấy vạt năn tượng mọc mé mương bao con đừng có phá nghe. Cứ để lại một ít cho tôm có chỗ trốn nắng, rễ năn rã ra lại làm thức ăn tự nhiên cho nó”.
Hơn một tháng mất ăn mất ngủ sên đất, đắp bờ bao, học hỏi kỹ thuật, tía bắt đầu thả tôm giống quảng canh theo mật độ ông Tám chỉ. Từ ngày đó, tía dựng căn chòi phía cuối ruộng để canh giữ. Bữa trưa nào nắng gắt, tía lại lội ra coi con tôm có bị ngộp nước nổi đầu không. Đêm mưa dầm cũng thức trắng theo dõi xem nước có bị ngọt hóa hay xì phèn để kịp thời xử lý. Tía vốn đã ốm nhom giờ tong teo, da đen nhẻm, hai mắt quầng thâm nhưng miệng lúc nào cũng cười. Có lần má nói giỡn: “Anh cưng tôm như trứng mỏng he!”. Tía cười khà khà: “Nó đem lại lợi cho mình, không cưng sao được. Vụ này ngon, mình trả hết nợ cho chú Tám, vẫn còn dư chút đỉnh lo cho Năn Tượng đi học sau này và lo cho em sanh đứa thứ hai”.
Nhưng người tính không bằng trời tính. Đợt nắng lửa kéo dài làm mực nước mương bao sụt giảm nghiêm trọng, đất phèn tiềm tàng bắt đầu xì lên dữ dội. Một buổi chiều, tía hớt hơ hớt hải chạy qua nhà ông Tám: “Chú Tám ơi… sao tôm con nó… vàng vàng!”. Ông Tám đang và cơm bỏ chén, cầm cuốn sách chạy vội ra ruộng. Vớt vài con tôm cỡ đầu đũa đang bơi yếu ớt ven bờ lên ngắm nghía, ông thở dài: “Đất xì phèn tăng đột ngột vượt ngưỡng rồi con ơi. Bây giờ vớt vát được chút nào hay chút nấy. Con qua vác bao tro trấu nhà chú về rải xuống khử phèn thử coi”. Tía gật đầu, nghe ruột gan thắt lại. Công sức mấy tháng trời, niềm hy vọng sáng trưng giờ ngả màu xám xịt. Tro trấu không cứu vãn nổi đàn tôm chưa kịp lớn, chúng chết nổi trắng mặt ruộng.
Tía thất tha thất thểu bước vô nhà, thả mình xuống chiếc võng bện bằng dây chuối, buồn hiu. Má từ dưới bếp bước lên, ngồi xuống cạnh võng nắm tay tía: “Anh đừng buồn. Nếu ai nuôi cũng trúng thì tôm đâu có giá cao vậy. Giờ tính vầy, ruộng mình cứ giữ trồng lúa, còn phần đất mương bao thì cấy lại năn tượng để em đươn nón với giỏ mang ra chợ bán”. Tía bật ngồi dậy, giọng ngập ngừng: “Như vậy… cực em quá…”. Má mỉm cười: “Có gì cực chớ. Việc này nhẹ nhàng muốn chết!”. Tía cười theo, giơ tay nhéo má vợ: “Nhẹ nhàng mà muốn chết thì nhẹ nhàng làm chi!”.
***
Đó là chuyện hai mươi mấy năm trước. Cô bé Năn Tượng giờ là chủ nhiệm hợp tác xã thủ công mỹ nghệ, xã viên là những nghệ nhân lớn tuổi trong ấp như má và hàng chục lao động trẻ địa phương. Ban đầu, sản phẩm của hợp tác xã chỉ xuất hiện tại các hội chợ OCOP, dần dần xuất khẩu sang thị trường châu Âu, Nhật Bản. Người ta không còn cười tên “Năn Tượng” mà nhắc đến như niềm tự hào của cả vùng này.
Hồi chị tốt nghiệp đại học ngành thiết kế mỹ thuật, thay vì chọn ở lại phố thị với mức lương cao, chị quyết định về quê trước sự ngỡ ngàng của họ hàng, làng xóm. Đứng trước vạt ao năn tượng xanh mướt của gia đình, chị không làm theo cách cũ. Chị được tía má cho đi học tới nơi tới chốn, để nhận ra giá trị của xu hướng kinh tế xanh và các sản phẩm thủ công thân thiện với môi trường. Cây năn tượng vốn chỉ dùng đươn nón, đươn giỏ thô sơ bán ở chợ huyện, nay qua thiết kế và sáng tạo, chị đã biến chúng thành hàng chục sản phẩm thủ công mỹ nghệ vừa rất Việt Nam nhưng cũng phù hợp thẩm mỹ hiện đại.
Một buổi chiều, tía má ngồi uống trà ở hàng ba nhìn chị hướng dẫn các cô gái trẻ cách phối màu mẫu túi xách mới xuất khẩu. Má nháy mắt với tía: “Hồi đó lúc sanh con trong hoàn cảnh đặc biệt, nên mới đặt tên Năn Tượng. Ai dè cái tên quê mùa đó mang loài cỏ xứ mình đi khắp thế giới, nuôi sống mấy chục người”. Tía cười theo: “Còn thằng Út, bà coi tính sao để cũng về xứ mình mần ăn luôn...”. Má nói ngay: “Ông yên tâm. Thằng Út học quản trị kinh doanh gì đó để về tiếp chị nó coi chuyện làm ăn này nè!”.
Bên kia dòng kinh, làn gió nhẹ thổi qua những đám năn tượng thon dài hướng thẳng lên bầu trời xanh, dẻo dai và bền bỉ như những con người xứ nước lợ này.