Không gian biển đang mở ra nhiều dư địa phát triển cho Việt Nam, từ năng lượng tái tạo, hàng hải, logistics đến nuôi biển công nghệ cao và du lịch. Để những tiềm năng này thành động lực tăng trưởng, cần huy động nguồn lực đầu tư lớn, phát triển xanh, không đánh đổi môi trường, hệ sinh thái.
.webp)
Phó Cục trưởng Cục Biển đảo Việt Nam Nguyễn Việt Dũng. Ảnh: Bnews/vnanet.vn
Phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với Phó Cục trưởng Cục Biển đảo Việt Nam Nguyễn Việt Dũng về định hướng thu hút đầu tư, phát triển kinh tế biển và xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Nghị quyết 20-NQ/TW được thông qua tại Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã nâng tầm tư duy về xây dựng quốc gia biển. Theo ông, những điểm mới và đột phá nào sẽ tạo động lực cho phát triển kinh tế biển trong giai đoạn tới?
Theo tôi, điểm mới quan trọng nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW là nâng tư duy về biển từ “phát triển kinh tế biển” lên tầm nhìn rộng hơn là “xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”. Đây không chỉ là sự thay đổi về cách gọi mà là chuyển biến về tư duy phát triển: biển được xác định là không gian phát triển chiến lược, nguồn lực quan trọng và một bộ phận cấu thành sức mạnh tổng hợp của đất nước.
Nếu Nghị quyết số 36-NQ/TW đặt nền móng cho phát triển bền vững kinh tế biển, thì Nghị quyết số 20-NQ/TW tiếp tục phát triển tư duy đó trong bối cảnh mới, với yêu cầu quản trị biển hiện đại, khai thác hiệu quả không gian biển, phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và tạo động lực tăng trưởng mới. Đây là bước chuyển từ tư duy “khai thác biển” sang “quản trị biển hiện đại”, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chính.
So với Nghị quyết số 36-NQ/TW, Nghị quyết số 20-NQ/TW có những điểm mới đáng chú ý. Trước hết là đổi mới tư duy quản trị biển, chuyển từ quản lý theo từng ngành, từng địa phương sang quản trị tổng hợp, hiện đại, dựa trên quy hoạch không gian biển và sự liên kết giữa các ngành, các vùng, qua đó hạn chế chồng lấn, xung đột trong sử dụng không gian biển.
Cùng với đó là tạo đột phá về thể chế và không gian phát triển. Việc hoàn thiện pháp luật, quy hoạch không gian biển và cơ chế phân bổ, sử dụng không gian biển sẽ tạo môi trường minh bạch, ổn định hơn để huy động các nguồn lực xã hội đầu tư vào biển.
Một điểm mới quan trọng khác là xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu. Giá trị của biển trong giai đoạn tới không chỉ đến từ khai thác tài nguyên mà ngày càng đến từ tri thức, công nghệ, dữ liệu và năng lực quản trị. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia sẽ tạo nền tảng cho quản lý và phát triển biển dựa trên dữ liệu.
Nghị quyết cũng mở rộng không gian và phương thức phát triển kinh tế biển, tăng cường liên kết biển với đất liền, liên kết vùng và hình thành các trung tâm kinh tế biển có sức lan tỏa, từng bước hình thành các chuỗi giá trị và hệ sinh thái kinh tế biển có giá trị gia tăng cao. Đặc biệt, phát triển kinh tế biển phải theo hướng hiện đại, xanh, thông minh và bền vững, gắn với bảo vệ hệ sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Có thể nói, đột phá lớn nhất là thay đổi cách nhìn về biển, từ “khai thác biển” sang “quản trị và phát triển biển”, tạo nền tảng để huy động tốt hơn các nguồn lực và xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
.webp)
Bãi Khem Phú Quốc (An Giang). Ảnh: TTXVN phát
Muốn kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng mới, theo ông Việt Nam cần thu hút đầu tư vào những lĩnh vực nào? Làm thế nào để thu hút đầu tư mà không đánh đổi môi trường và hệ sinh thái biển, thưa ông?
Để phát triển hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại và đưa kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng, Việt Nam cần ưu tiên thu hút đầu tư vào các lĩnh vực mũi nhọn theo hướng xanh, thông minh.
Với năng lượng tái tạo và các ngành biển mới là cơ chế thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ đối với các dự án như: điện gió ngoài khơi quy mô lớn, điện mặt trời trên biển, điện sóng; đồng thời phát triển y - dược biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, sản xuất hydrogen và amoniac xanh.
Kinh tế hàng hải cần phát triển hệ thống cảng biển theo hướng xanh, thông minh, hiện đại, nhất là các cảng cửa ngõ và trung tâm trung chuyển quốc tế; phát triển đội tàu vận tải biển, dịch vụ logistics hàng hải và công nghiệp đóng tàu thân thiện với môi trường.
Trong lĩnh vực thủy sản, cần cơ cấu lại ngành theo hướng ưu tiên nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao, nuôi biển xa bờ; khuyến khích các mô hình nuôi biển thông minh, tích hợp năng lượng tái tạo và công nghệ số. Du lịch và dịch vụ biển cũng cần được đầu tư để nâng cao sức cạnh tranh quốc tế, hình thành các trung tâm, cụm du lịch biển quy mô lớn.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục đầu tư điều tra, thăm dò, khai thác dầu khí và khoáng sản biển bằng công nghệ tiên tiến, gắn với phát triển chuỗi chế biến sâu, dịch vụ kỹ thuật và công trình biển.
Quan điểm xuyên suốt của Đảng là kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Để thực hiện được điều này cần đổi mới quy hoạch và quản trị không gian biển. Các dự án đầu tư phải tuân thủ Quy hoạch không gian biển quốc gia, bảo đảm hài hòa lợi ích phát triển với yêu cầu bảo vệ môi trường, hệ sinh thái. Đồng thời, ưu tiên các dự án chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, phát thải thấp; kiểm soát chặt hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, đặc biệt đối với lấn biển và giao, sử dụng không gian biển.
Trước sức ép ngày càng lớn lên các hệ sinh thái biển, cần giải pháp gì để hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, thưa ông?
Giải quyết bài toán hài hòa giữa kinh tế và bảo vệ đa dạng sinh học đòi hỏi triển khai đồng bộ các giải pháp.
Trước hết là cần mở rộng và quản lý hiệu quả hệ thống khu bảo tồn biển, phấn đấu đến năm 2030 diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; đồng thời bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái đặc thù như rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi triều và đầm phá.
Cùng với đó là bảo vệ nguồn lợi thủy sản, quyết liệt phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU); cơ cấu lại đội tàu, giảm khai thác ven bờ, kết hợp hoàn thiện chính sách chuyển đổi nghề, bảo đảm sinh kế bền vững cho ngư dân.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là kiểm soát rác thải nhựa, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, thu gom, phân loại và tái chế chất thải; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ, phục hồi và từng bước xây dựng cơ chế khai thác giá trị của các bể hấp thụ carbon xanh từ biển.
Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số cần được đẩy mạnh trong quan trắc, giám sát, dự báo, cảnh báo sớm thiên tai và rủi ro sinh thái, thông qua trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám và Internet vạn vật.
Trong bảo vệ môi trường biển phải gắn với cải thiện sinh kế và phát huy vai trò của cộng đồng cư dân ven biển, hải đảo. Người dân cần được đặt ở vị trí trung tâm, vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là lực lượng tham gia bảo vệ và phát triển bền vững không gian biển, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Trân trọng cảm ơn ông!
Bài 3: Định hướng chiến lược đưa kinh tế biển bứt phá
Bích Hồng (TTXVN)