26/01/2011 - 08:42

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và nhân dân ta

* HỒ XUÂN HÙNG
(Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phó trưởng Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới)

Trong lãnh đạo cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng nông thôn. Nhưng với Nghị quyết số 26-NĐ/TW và Bộ tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ ban hành, vấn đề xây dựng nông thôn mới lần đầu tiên được đề cập một cách cơ bản, toàn diện và sâu sắc, đáp ứng mong muốn của nhân dân và yêu cầu chiến lược xây dựng đất nước cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Trong xu thế phát triển hiện nay, không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và đời sống nông dân còn thấp. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05-8-2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn với mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”.

Về mục tiêu cụ thể, đến năm 2015: 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và đến năm 2020: 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (theo 19 tiêu chí được Thủ tướng Chính phủ cụ thể hóa tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16-4-2009) trên tổng số 9.121 xã hiện nay của cả nước ta.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, trước hết chúng ta cần thống nhất nhận thức về nội dung chức năng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam.

I- Nội dung, chức năng nông thôn mới XHCN Việt Nam

1.1 Nội dung nông thôn và nông thôn mới XHCN Việt Nam.Đến nay, nội dung này được thống nhất với những quy định tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã”.

Như vậy, nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: Nông thôn là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; Sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; Đời sống về vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; Xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.1.2- Chức năng nông thôn mới.

a) Chức năng vốn có của nông thôn là sản xuất nông nghiệp: Nông thôn mới phải là nơi sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp có năng suất, chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa, không phải là tự cung, tự cấp, phát huy được đặc sắc của địa phương (đặc sản). Đồng thời với việc này là phát triển sản xuất ngành nghề, trước hết là ngành nghề truyền thống của địa phương. Sản phẩm ngành nghề vừa chứa đựng yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể của từng làng quê Việt Nam, vừa tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn...

b) Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc: Bản sắc văn hóa làng quê cũng đồng nghĩa với bản sắc từng dân tộc, giữ gìn nó là giữ gìn văn hóa truyền thống đa dạng của các dân tộc, của từng quốc gia. Làng quê nông thôn Việt Nam khác so với các nước xung quanh, ngay cả ở Việt Nam, làng quê dân tộc Thái khác với các dân tộc Mông, Ê-đê, Ba-na, Kinh... Nếu quá trình xây dựng nông thôn mới làm phá vỡ chức năng này là đi ngược lại với lòng dân và làm xóa nhòa truyền thống văn hóa muôn đời của người Việt.

c) Chức năng bảo đảm môi trường sinh thái. Nếu như nền văn minh công nghiệp phá vỡ mối quan hệ hài hòa vốn có giữa con người và thiên nhiên, thì sản xuất nông nghiệp lại mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái. Từ vườn cây, ao cá, cánh đồng lúa bát ngát mênh mông, trang trại cà phê, tiêu..., hệ thống tưới tiêu, hồ đập thủy lợi cho đến bờ dậu... làm cho con người gần gũi, gắn chặt với thiên nhiên.

Một thực tế hiện nay ở nước ta là nhiều làng quê cũng đã dần gạch hóa, bê tông hóa, đang phố hóa, từng ngày phá vỡ đi môi trường sinh thái. Đã đến lúc chúng ta phải lấy chức năng bảo vệ môi trường sinh thái làm thước đo cho sự hoàn thiện mô hình nông thôn mới ở Việt Nam.

II- Biện pháp thực hiện các giải pháp của Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới

Trong Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, Chính phủ quyết định 7 giải pháp chủ yếu để thực hiện 11 nội dung mà Chương trình mục tiêu quốc gia đề ra nhằm đạt mục tiêu cụ thể từ nay đến năm 2015: 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và đến 2020: 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới mà Chính phủ đã ban hành). Dưới đây là một số điểm cần lưu ý khi thực hiện các giải pháp để xây dựng nông thôn mới.2.1- Trong quá trình tổ chức cuộc vận động xã hội về xây dựng nông thôn mới, phải nhận thức được vị thế chủ thể của người nông dân (bao gồm cả vị thế chính trị, kinh tế). Đây là nhóm dân số đông nhất hiện nay ở nước ta, nông dân đã cùng với giai cấp công nhân Việt Nam đi suốt chiều dài lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng hiện tại đang gặp nhiều khó khăn trong đời sống kinh tế - văn hóa - tinh thần và nền dân trí chung còn thấp so với người dân thành thị.

Theo đó, nông thôn là khu vực rộng lớn nhất, đa dạng cư dân, đa dạng văn hóa truyền thống (kể cả tập tục lạc hậu), kết cấu hạ tầng lạc hậu..., môi trường sinh thái đang bị hủy hoại nghiêm trọng. Vì vậy, cần có cách tổ chức, vận động phù hợp.2.2- Quyết định lựa chọn một cách khoa học, sát thực tế với từng địa phương những nội dung, việc cần ưu tiên làm trước. Trong đó, kiên trì quy hoạch, bổ sung quy hoạch lại nông thôn theo tiêu chí nông thôn mới. Quy hoạch phải đi trước một bước. Từ quy hoạch tổng thể, phân khu chức năng đến quy hoạch chi tiết, phải tôn trọng quá trình tích lũy nhiều đời quy hoạch làng quê Việt Nam. Hạn chế tối đa gây xáo trộn, tốn kém gây tâm lý không tốt, không thiết thực khi làm quy hoạch, hoặc gây ảo tưởng trong dân. Việc đầu tư kết cấu hạ tầng trong quá trình xây dựng nông thôn mới chỉ thực hiện khi quy hoạch được phê duyệt.2.3- Kiên trì, lâu dài hỗ trợ nông dân về khoa học - kỹ thuộc, ứng dụng tiến bộ khoa học vào nông nghiệp, nông thôn. Nông dân chịu quá nhiều thiệt thòi về điều kiện tiếp cận thông tin, khoa học - kỹ thuật mới, không đủ lực (kể cả vốn và trình độ học vấn) để ứng dụng khoa học - kỹ thuật. Việc ứng dụng kỹ thuật mới phải thực tế, phải đi từ thấp lên cao. Khuyến nông là một giải pháp rất hữu hiệu ở nước ta và theo kinh nghiệm quốc tế.2.4- Đầu tư từ nhiều nguồn cho nông thôn. Hạ tầng và công trình phúc lợi công cộng do Nhà nước đầu tư 100% (hiện nay Chính phủ quyết định 7 hạng mục công trình “cứng”), tạo sự thay đổi bộ mặt nông thôn. Nhưng về lâu dài đòi hỏi phải có chính sách thu hút sự đầu tư của doanh nghiệp về với nông thôn.

Hiện nay, doanh nghiệp “đứng chân” ở nông thôn quá ít, chính sách giảm bớt rủi ro cho người nông dân trong sản xuất nông, lâm, thủy sản quá thiếu, doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này hiệu quả cũng thấp và thiếu ổn định, thường đẩy rủi ro về phía người sản xuất. Cần được xử lý tốt các mối quan hệ nhằm thu hút doanh nghiệp về nông thôn, đó là cách tốt nhất để huy động nguồn lực và là cầu nối Nông dân - Doanh nghiệp - Thị trường.

Nếu sự phát triển sản xuất của cư dân nông thôn gắn kết với doanh nghiệp tại nông thôn, theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, đó là cách tốt nhất không chỉ là huy động nguồn lực, mà còn là cách “dẫn dắt nông dân ra thị trường” khắc phục được kiểu đưa thị trường về nông thôn - “thả nổi nông dân trong cơ chế thị trường”. Mặt khác, tạo cơ hội cho cư dân nông thôn tham gia đầu tư không chỉ cho sản xuất của chính mình, mà cả phúc lợi công cộng do chính mình được hưởng.2.5- Hình thành “giá đỡ” để nông dân yên tâm sản xuất sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp.

a) Chính phủ đã có quyết định về an ninh lương thực quốc gia, cũng có nghĩa là phải ổn định lâu dài 3,7 triệu héc-ta đất trồng lúa. Ngoài quy định về việc giá mua lúa phải bảo đảm 30% - 40% lợi nhuận cho nông dân trên giá thành, cần có chính sách bảo hiểm khác để nông dân yên tâm trồng lúa, nhất là rủi ro do thời tiết, thiên tai, dịch bệnh.

Sản xuất lúa ở nước ta không chỉ bảo đảm lương thực trong nước mà còn góp phần giữ vững an ninh lương thực quốc tế, nâng vị thế quốc gia Việt Nam trên thị trường quốc tế. Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gạo lợi nhuận khá lớn, nhưng đời sống người trồng lúa rất bấp bênh, thu nhập đang ở mức dưới 20 triệu đồng/ha. Những tỉnh chủ yếu trồng lúa (Đồng bằng Bắc Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long) băn khoăn khi phải giữ ổn định đất lúa, không được chuyển sang mục đích khác dù hiệu quả trên một héc-ta cao hơn nhiều, như phát triển khu đô thị, khu công nghiệp,... Chính sách bảo hiểm và cơ chế tài chính quốc gia cần giải quyết thấu đáo vấn đề này.

b) Bảo hiểm cho người nông dân thực hiện thu hồi đất: Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, ngày 13-8-2009 của Chính phủ đã giải quyết tương đối tốt vấn đề đền bù (bằng tiền) cho nông dân khi thu hồi đất và các chính sách hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề khác. Song, thực tế chuyển đổi việc làm cho người nông dân rất phức tạp, nhất là khi các doanh nghiệp mà họ vào làm việc gặp khó khăn, thì họ phải tự lo lấy nghề. Cần tiếp tục nghiên cứu để có chính sách riêng cho đối tượng này, nhất là bảo hiểm cho người lập nghiệp mới.

c) Bảo hiểm cây trồng, vật nuôi: Lựa chọn một số cây trồng, vật nuôi đã là sản phẩm hàng hóa ở quy mô lớn, theo vùng để đưa vào chính sách bảo hiểm, vừa bảo đảm ổn định bền vững thu nhập cho cư dân nông thôn, doanh nghiệp, vừa tạo thế cho những sản phẩm hàng hóa của Việt Nam đã có vị thế quốc gia (như đã nêu trên).

d) Xây dựng hệ thống bảo hiểm cho người nông dân khi quá tuổi lao động theo nguyên tắc: người dân hưởng thụ bảo hiểm; tập thể, doanh nghiệp sử dụng hoặc là hợp tác xã (HTX) sản xuất sản phẩm nông nghiệp; ngân sách nhà nước cùng tham gia để khi người dân quá tuổi lao động có “tiền hưu”, có thế gọi là “hưu nông dân”.

(Còn tiếp)

Theo Tạp chí Cộng sản

Chia sẻ bài viết