09/07/2008 - 08:56

Về chính sách "an ninh năng lượng hải ngoại" của Mỹ

Một binh sĩ Mỹ bên đường ống dẫn dầu bị bốc cháy tại Iraq. Ảnh: AFP

Washington luôn coi việc bảo đảm các nguồn cung ứng dầu mỏ từ bên ngoài (chiếm 2/3 nhu cầu) là vấn đề sống còn đối với an ninh quốc gia. Chính vì vậy mà Tổng thống George H W Bush (cha) phát động chiến tranh vùng Vịnh năm 1990-1991 và đến năm 2003, đương kim Tổng thống George W Bush (con) đưa quân xâm lược Iraq. Xung quanh vấn đề này, Michael Klare, giáo sư nghiên cứu các vấn đề hòa bình và an ninh thế giới của Đại học Hampshire vừa có bài viết trên trang tin điện tử Atimes. Xin trích giới thiệu cùng bạn đọc.

Sự kết hợp giữa “an ninh năng lượng” và “an ninh quốc gia” lần đầu tiên được Tổng thống Franklin Roosevelt đề cập vào năm 1945 khi ông hô hào bảo vệ hoàng gia Arabie Séoudite để đổi lấy việc Mỹ được ưu tiên tiếp cận nguồn dầu mỏ của quốc gia vùng Vịnh này. Sự gắn kết hai khái niệm trên sau đó chính thức được đưa ra bởi Tổng thống Jimmy Carter năm 1980 khi phát biểu trước Quốc hội Mỹ rằng việc đảm bảo nguồn cung dầu mỏ không bị gián đoạn từ vùng Vịnh là “lợi ích sống còn”, nên Mỹ cần sử dụng “bất kỳ phương tiện nào, kể cả sức mạnh quân sự” để giải quyết. Để thực hiện “học thuyết” trên của mình, ông Carter ra lệnh thành lập Lực lượng đặc nhiệm hỗn hợp triển khai nhanh, trong đó chủ yếu để đưa đi tác chiến ở khu vực vùng Vịnh. Người kế nhiệm Ronald Reagan sau đó biến lực lượng này thành một tổ chức tác chiến khu vực quy mô lớn với tên gọi Bộ chỉ huy trung tâm (CENTCOM). Sau ông Reagan, các đời tổng thống Mỹ không ngừng tăng cường sức mạnh của CENTCOM bằng cách đặt thêm căn cứ quân sự, bổ sung chiến hạm và phi đội bay. CENTCOM chịu trách nhiệm bảo vệ các cơ sở lọc dầu, đường ống vận chuyển và tàu chở dầu khắp Trung Đông, từ Biển Caspie đến châu Phi.

Theo một đánh giá của Quỹ hội đồng phòng thủ quốc gia, chi phí bảo vệ an ninh dầu mỏ của Mỹ chỉ tính riêng tại vùng Vịnh lên tới 138 tỉ USD/năm, so với 49 tỉ USD trước khi Lầu Năm Góc đánh chiếm Iraq năm 2003.

Tuy nhiên, dù triển khai 160.000 binh sĩ với chi phí hàng trăm tỉ USD tại Iraq, Lầu Năm Góc vẫn không thể bình định nổi quốc gia vùng Vịnh này và tỏ ra bất lực trước các cuộc tấn công phá hoại đường ống và cơ sở lọc dầu của các lực lượng phản kháng. Năm năm sau ngày bị Mỹ xâm chiếm, Iraq chỉ sản xuất khoảng 2,5 triệu thùng dầu/ngày, tồi tệ hơn thời Saddam Hussein. Hơn nữa, tờ Thời báo New York dẫn lời các quan chức quân sự Mỹ tiết lộ có ít nhất 1/3 sản lượng từ nhà máy lọc dầu lớn nhất Iraq chảy ra thị trường chợ đen.

Kết quả đạt được của bộ máy quân sự khổng lồ của Mỹ trong vấn đề bảo đảm nguồn cung năng lượng tại các quốc gia khác cũng không mấy sáng sủa. Chẳng hạn, bất chấp các nỗ lực của quân đội chính phủ Nigeria do Mỹ tài trợ trang thiết bị tác chiến, vùng Đồng bằng Niger giàu dầu mỏ vẫn liên tục bị lực lượng nổi dậy quấy rối làm giảm sản lượng dầu của nước này. Trong khi đó, giống như tại Iraq, giới chức quân đội Nigeria cũng bị cáo buộc tham ô hàng tỉ USD từ việc tuồn dầu ra thị trường chợ đen.

Sự hiện diện quân sự của Mỹ nhằm bảo vệ nguồn cung dầu mỏ hải ngoại còn gây ra những vấn đề an ninh nghiêm trọng khác. Chẳng hạn, quyết định duy trì căn cứ quân sự đồ sộ và lâu dài tại Arabie Séoudite sau chiến dịch “Bão táp sa mạc” năm 1991 được coi là nguồn gốc phát sinh chủ nghĩa chống Mỹ cực đoan tại nước này và trở thành động cơ để Osama bin Laden tổ chức các cuộc tấn công khủng bố kinh hoàng ở Mỹ ngày 11-9-2001.

Tuy vậy, Washington vẫn kiên quyết theo đuổi chính sách quân sự hóa an ninh năng lượng của mình. Việc Lầu Năm Góc vừa đưa vào hoạt động Bộ chỉ huy châu Phi (AFRICOM), trung tâm chỉ huy tác chiến hải ngoại mới đầu tiên kể từ sau sự ra đời của CENTCOM cách đây 1/4 thế kỷ, cũng không ngoài mục đích đó.

PHÚC NGUYÊN

Chia sẻ bài viết