12/12/2009 - 22:43

An ninh lương thực quốc gia

Nhìn từ vựa lúa ĐBSCL

Kỳ 1: Thực lực vựa lúa
Kỳ 2: Những thách thức vùng lúa trọng điểm

 


Kỳ 3: Hệ lụy của việc đầu tư thiếu đồng bộ

Theo nhận định của ngành nông nghiệp các địa phương vùng ĐBSCL, ngân sách đầu tư cho nông nghiệp đang giảm dần qua từng năm, trong khi vốn rót vào các khu công nghiệp, đô thị tăng nhanh và hệ lụy là ô nhiễm môi trường khó kiểm soát từ công nghiệp. Vấn đề này cũng tác động trực tiếp đến năng suất, sản lượng lúa vùng ĐBSCL.

Mức đầu tư cho cây lúa thấp

Nhu cầu cơ giới hóa để nâng cao giá trị lúa gạo ở ĐBSCL đang trở thành vấn đề cấp thiết. Trong ảnh: Máy gặt đập liên hợp thu hoạch lúa ở ĐBSCL. Ảnh: ANH KHOA. 

Các nhà khoa học về nông nghiệp tại ĐBSCL cho rằng, mức đầu tư cho nông nghiệp hiện tại chưa tương xứng với qui mô dân số, cũng như không tương xứng với mức đóng góp của nông dân. Trong khi một số khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất, khu đô thị chưa lấp đầy đã gây tổn thất về kinh tế; diện tích lúa bị ảnh hưởng trực tiếp do nước thải, khói bụi... Nhiều nơi không theo qui hoạch đã chuyển đổi đất trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản thiếu kiểm soát gây tác động tiêu cực đến môi trường đất, nước, hệ lụy là năng suất lúa bị giảm 30-50%, có nơi bị ô nhiễm nặng, không thể nuôi thủy sản hay tái trồng lúa...

Tại TP Cần Thơ, hiện tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm 14-15% GDP của thành phố, nhưng hộ dân sống nhờ vào nông lâm nghiệp- thủy sản chiếm đến 68% (dù đã giảm 2,63% so với năm 2006). Theo thống kê của ngành nông nghiệp, giai đoạn 2001-2005, tổng mức đầu tư cho ngành nông nghiệp là 2.745 tỉ đồng, bình quân 549 tỉ đồng/năm, trong đó ngân sách địa phương chỉ đáp ứng khoảng 9,7% so với nhu cầu. Giai đoạn 2006- 2010, mức đầu tư tăng lên 2.822 tỉ đồng (564 tỉ đồng/năm), trong đó mức đầu tư từ ngân sách chỉ đáp ứng khoảng 9,2% nhu cầu; đến giai đoạn 2011-2015 (6.454 tỉ đồng) và 2016-2020 (12.192 tỉ đồng), ngân sách địa phương cho tổng nhu cầu vốn nông nghiệp giảm lần lượt còn 8,2% và 7,6%; còn lại là từ ngân sách Trung ương và huy động từ các doanh nghiệp, trong dân. Năm 2007, TP Cần Thơ đầu tư 14 tỉ đồng phát triển nông nghiệp, năm 2008 cắt giảm xuống còn 9 tỉ đồng, việc phân bổ ngân sách đầu tư cho các quận, huyện lại dựa vào sức đóng góp của từng địa phương.

Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ Phạm Văn Quỳnh cho biết: “Năm 2009, ngân sách đầu tư cho nông nghiệp tăng so với trước, nhưng không đủ sức để thay đổi bộ mặt nông thôn, nông nghiệp. Mức đầu tư này chỉ đáp ứng nhu cầu thông tin về sản xuất nông nghiệp, còn công tác chuyển giao kỹ thuật, tác động đến người trồng lúa làm thay đổi tập quán sản xuất... không thực hiện được trên diện rộng. Mà cán bộ nông nghiệp khi không có điều kiện “áp sát” nông dân để thay đổi tập quán sản xuất thì khó mà thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển”. Năm 2009, ngân sách đầu tư nâng lên 12 tỉ đồng, đồng thời, thành phố giao tổng vốn kế hoạch xây dựng cơ bản (các công trình thủy lợi, nước sạch) cho ngành nông nghiệp trên 72,5 tỉ đồng (tăng 1,75 lần so với năm 2008 và tăng 3,79 lần so giai đoạn 2004-2008, còn so với năm có đầu tư thấp nhất (năm 2006) thì tăng 10 lần), nhưng không thấm vào đâu so với nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Còn tại tỉnh Hậu Giang, mức đầu tư cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp giai đoạn 2005- 2009 hơn 409,2 tỉ đồng, nhưng chỉ chiếm 42,8% so với qui hoạch được duyệt. Trong đó, vốn Trung ương hỗ trợ hơn 348 tỉ đồng (chiếm 85%), còn vốn địa phương chỉ đáp ứng 14,8% (trên 60,5 tỉ đồng). Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Hậu Giang Nguyễn Văn Đồng bức xúc: “Hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ cho sản xuất lúa là rất quan trọng, nhưng lâu nay chủ yếu là huy động sức dân 75%, còn Nhà nước chỉ 25%. Muốn đi vào cơ giới hóa một cách đồng bộ phải có hệ thống thủy lợi nội đồng hoàn chỉnh”. Rõ ràng, nguồn vốn đầu tư cho nông thôn còn khá hạn chế, công tác qui hoạch và thực hiện qui hoạch còn nhiều bất cập, chưa thực sự phát huy hiệu quả. Người dân chưa quan tâm, tin tưởng vào công tác qui hoạch và phát triển chung của ngành nông nghiệp, dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp.

Cũng không thể phủ nhận, thời gian qua, các công trình thủy lợi ở ĐBSCL đã đóng góp tích cực trong việc cung cấp và tiêu thoát nước, rửa phèn... giúp cho nông dân ĐBSCL chuyển đổi mùa vụ sản xuất từ một vụ lúa sang 2 rồi đến 3 vụ lúa/năm. Tuy nhiên, các công trình thủy lợi được đầu tư xây dựng ở ĐBSCL đã bộc lộ những vấn đề bất cập. Những công trình kiểm soát lũ như: ngọt hóa bán đảo Cà Mau, Gò Công (Tiền Giang) và công trình Bắc Vàm Nao (An Giang) đã không phát huy hiệu quả như mong muốn. Tiến sĩ Trần Thanh Bé, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL - Trường Đại học Cần Thơ, nói: “Nước là mạch sống, chứ không chỉ riêng cho trồng trọt. Do đó, qui hoạch các công trình thủy lợi không chỉ phục vụ cho trồng trọt mà cả thủy sản, giao thông và công nghiệp, sinh hoạt cũng cần nước. Còn việc nghiên cứu sử dụng nước cho nông nghiệp, thay vì đắp đê để bảo vệ diện tích lúa mùa lũ, thì có thể mở ra để chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Tuy nhiên, không phải giải pháp kỹ thuật nào đưa xuống dân cũng được chấp nhận, bởi họ không đủ điều kiện để thực hiện việc đó”. Tiến sĩ Trần Thanh Bé cho rằng, phải có cái nhìn đến 20 năm sau và xa hơn nữa, chứ không thể nhìn công trình trong 5 hay 10 năm và dự đoán được sự phát triển của vùng trong tương lai để qui hoạch phát triển phù hợp và không tốn kém. Như việc đắp đê bao và xây dựng cống trong tiểu dự án thủy lợi Ô Môn -Xà No, Trung ương chỉ đầu tư làm đê bao, xây dựng cống và kinh cấp I, II, các công trình còn lại phụ thuộc vào khả năng đầu tư của địa phương. Còn các công trình thoát lũ ra biển Tây cũng đồng nghĩa với việc từ chối tiếp nhận phù sa, các loại tôm cá từ thượng nguồn đổ về...

Cơ giới hóa chưa đồng bộ

Hiện nay, tỷ lệ làm đất, suốt lúa của vùng đã đạt trên 80% bằng cơ giới, nhưng việc phơi sấy chưa đến 30%; tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch trên lúa hiện nay tại cả vùng 11-13% (riêng khâu cắt lúa, thu gom tỷ lệ thất thoát khoảng 4-5%) dẫn đến hạt lúa thương phẩm giảm 20% về giá trị. Thêm vào đó, hệ thống kho tàng dự trữ lúa của nông dân chỉ có khả năng giữ trung bình 2 tháng/năm là con số đáng lo ngại (kết quả điều tra của Phân viện Cơ điện và CN sau thu hoạch năm 2005). Còn tại các doanh nghiệp khoảng 1-2 năm (đối với lúa), gạo thì không quá 6 tháng. Mặc dù, Chính phủ đã đầu tư 3 chợ nông sản cấp vùng cho ĐBSCL (tại Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp) với kinh phí trên 64 tỉ đồng, với mong muốn có sàn giao dịch hiện đại, đồng thời người dân có thể gửi lúa lại những khu chợ này khi giá lúa thấp. Nhưng trên thực tế, các chợ này chưa phát huy được vai trò của mình, nông dân vẫn phơi lang lúa vào mùa vụ.

Thống kê của Cục Trồng trọt, vùng ĐBSCL hiện có 3.193 máy GĐLH và 4.243 máy gặt xếp dãy đảm bảo thu hoạch bằng cơ giới 28% diện tích lúa toàn vùng. Cùng với 7.037 lò sấy, năng lực sấy chỉ đạt 25,5% tổng sản lượng lúa hè thu hằng năm. Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL, nói: “Tỷ lệ sấy lúa còn đạt thấp do sản lượng lúa mang đến lò sấy ít. Nông dân có thói quen bán lúa tại ruộng, còn nếu họ tự trang bị lò sấy cũng không đạt yêu cầu, bởi độ ẩm lúc nào cũng cao hơn 17%. Như vậy, lúa chỉ trữ được 3 tháng và phẩm chất hạt lúa kém”. Tiến sĩ Bảnh cho rằng, doanh nghiệp (DN) mới đủ lực làm việc này, DN cần đặt lò sấy lúa tại chỗ thu mua để tiện lợi cho nông dân. Có như vậy, hạt lúa mới được bảo quản tốt và giữ được chất lượng hạt gạo. Hiện nay, hầu hết các tỉnh, thành trong vùng ĐBSCL đều có chương trình hỗ trợ nông dân mua máy gặt đập liện hợp (GĐLH) và Chính phủ có Quyết định 497/2009/QĐ-TTg về hỗ trợ nông dân trang bị thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp... Nhưng việc triển khai còn chậm, do vướng ở khâu thủ tục và máy sản xuất trong nước không đáp ứng nhu cầu về số lượng lớn, chất lượng cũng còn nhiều hạn chế. Như tại Hậu Giang, tỉnh có đề án hỗ trợ nông dân mua 100 máy gặt đập liên hợp (giai đoạn 2009-2012) với kinh phí 12-13 tỉ đồng, nhưng việc triển khai thực hiện còn rất chậm, do vướng khâu thủ tục, máy trong nước lại không đáp ứng nhu cầu kỹ thuật, tính năng.

Ông Trần Hoàng Minh, nông dân ở xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, bức xúc: “Ở Thoại Sơn ngân sách Trung ương, địa phương quan tâm đến đầu tư hạ tầng nông thôn tốt, Nhà nước 40%, dân 60% để làm hệ thống đê bao khép kín ngăn lũ, nông dân có điều kiện sản xuất 3 vụ lúa/năm, đồng thời cũng là tuyến giao thông nông thôn. Tỉnh còn hỗ trợ nông dân mua máy gặt đập liên hợp (GĐLH) 3 năm không tính lãi suất, nhưng từ khi có gói kích cầu của Chính phủ 497, cho vay mua thiết bị, việc tiếp cận chậm lại vì khó vay hơn gói của tỉnh, do ngân hàng đòi điều kiện, nông dân phải có tay nghề, biết lái máy và sửa chữa mới hỗ trợ”. Thời gian qua, ông Minh tham gia tổ hợp tác nhân giống lúa của xã Vĩnh Trạch với vai trò là tổ trưởng, còn từ tháng 6-2009, tổ hợp tác được nâng lên hợp tác xã (HTX), địa phương hỗ trợ về pháp lý, kỹ thuật và sản phẩm được doanh nghiệp bao tiêu. Nhưng ông cũng như xã viên mong muốn được tiếp cận gói kích cầu để phát triển thêm dịch vụ nông nghiệp, góp phần đa dạng hóa hoạt động HTX, đảm bảo phát triển bền vững, nhưng chưa đạt nguyện vọng.

Theo qui hoạch của Bộ NN&PTNT, toàn vùng ĐBSCL cần kho trữ 4 triệu tấn lúa gạo; riêng Tổng công ty Lương thực miền Nam là 1 triệu tấn. Nhưng từ khi bỏ bao cấp sang kinh doanh thị trường, các DN đã bỏ hệ thống thu mua lương thực và phân phối vật tư nông nghiệp, hệ thống bán lẻ ở thành thị, chỉ tập trung vào xuất khẩu, không thật sự là bà đỡ của nông dân. Ông Nguyễn Tiến Dũng, Phó Tổng giám đốc Công ty Lương thực miền Nam, nói: “Hiện nay, nông dân sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, khâu cơ giới hóa thu hoạch yếu, nông dân không đủ sức, nhiều DN cũng chưa đủ lực và chưa thực sự quan tâm đến vấn đề này, do không đủ vốn lưu động. DN có hợp đồng tiêu thụ thì mua, không thì dừng lại, giá xuống, nông dân thiệt. Trong khi nhiều DN nhỏ tham gia kinh doanh lương thực khi thị trường thuận lợi và khi biến động thì bỏ sang ngành khác, gây thiệt hại cho những DN kinh doanh lương thực thực thụ”. Có thể nói, khâu đầu vào và đầu ra cho hạt lúa gạo hiện chưa được quan tâm đúng mức nên hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao, chưa bền vững để khuyến khích người trồng lúa.

Công tác giống chưa đáp ứng yêu cầu

Hiện nay, các giống cao sản mới, ngắn ngày, có triển vọng kháng rầy nâu như: OM4498, OM5930, OM2395, OM5936, OM4900, OM6061, OM6162, OM6073, OM4668 được khuyến cáo phát triển rộng rãi trong sản xuất. Tuy nhiên, trên thực tế, nông dân còn e ngại do chi phí đầu tư cao, giống chất lượng hạt gạo kém vẫn tồn tại với tỷ lệ cao qua mỗi mùa vụ.

Gần 20 năm qua, kim ngạch xuất khẩu gạo luôn đứng đầu trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản cả nước và nằm danh sách 11 mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD mỗi năm. Theo GS.TS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, công nghệ cho hạt giống yếu kém đã hạn chế rất lớn đến sự phát triển giống cây trồng trong 20 năm qua, đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng nông sản và cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế. DN chưa chú trọng thị trường gạo nội địa mà bỏ mặc cho tư thương cũng làm hạt gạo bị “tổn thương” rất lớn. Còn ông Phạm Văn Quỳnh, Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, cho rằng, việc nghiên cứu giống lúa mới phục vụ cho sản xuất hiện chưa được hài hòa lợi ích các bên (nhà khoa học - nhà quản lý - nông dân), nên đưa vào thực tiễn sản xuất không nhiều, do còn gút mắc ở khâu quyền tác giả, ngân sách địa phương. Từ nghiên cứu đến chuyển giao cần mạch thông suốt, chỉ cần ách ở khâu (nhà quản lý, nhà khoa học...) là công trình gần như bị “đóng nắp” vì không thể đến rộng rãi với người dân.

Hiện nay, tỷ lệ sử dụng hạt giống xác nhận trong gieo sạ tại vùng ĐBSCL mới đạt khoảng 32%; trung bình 1 vụ lúa, nông dân gieo sạ 25-30 giống. Do vậy, việc cạnh tranh về xây dựng thương hiệu cho hạt gạo của Việt Nam rất khó khăn. Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Hậu Giang Nguyễn Văn Đồng, bức xúc: Hạt gạo Việt Nam muốn có thương hiệu phải sử dụng giống xác nhận từ 70% trở lên. Bộ NN&PTNT ra kế hoạch xây dựng 1 triệu ha lúa chất lượng cao xuất khẩu, nhưng trên thực tế chưa hình thành được vùng nguyên liệu rộng lớn này, mà chủ yếu do từng địa phương xây dựng”. Mặc dù gần đây nhiều DN liên kết để đầu tư vùng nguyên liệu với ý tưởng xây dựng thương hiệu “Gạo Việt”, nhưng vẫn chỉ là ý tưởng bởi vùng nguyên liệu không được mở rộng với diện tích tương xứng.

Theo GS.TS Bùi Chí Bửu (Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam), PGS.TS Nguyễn Thị Lang (Viện lúa ĐBSCL), khả năng cạnh tranh kém của bộ giống lúa đang sản xuất trên đồng ruộng hiện nay như: độ bạc bụng theo xu hướng ấm lên của trái đất, hàm lượng amylose cao, giá trị độ bền thể gien thuộc nhóm cứng cơm là thách thức lớn cho nhà chọn giống và khả năng cạnh tranh hạt gạo Việt Nam với các quốc gia trong khu vực. Sự bộc phát sâu bệnh hại như rầy nâu, bệnh đạo ôn ngày càng nghiêm trọng, do thiếu những nghiên cứu cơ bản về di truyền làm cơ sở cho việc định hướng sử dụng giống bố mẹ và chọn lọc con lai, trên cơ sở đa dạng sinh học. Đầu tư nhiều tiền của trong sưu tập, bảo quản, nhưng thiếu đầu tư cho đánh giá kiểu hình và kiểu gien, dẫn đến việc sử dụng nguồn tài nguyên này rất thấp (ví dụ cây lúa chỉ mới khai thác được 0,03% ngân hàng gien đang được bảo quản tại ĐBSCL). Tất cả những yếu kém này tạo ra hệ lụy là nông dân - người trực tiếp sản xuất - không được thụ hưởng xứng đáng những gì họ đóng góp.

THU HÀ

Kỳ 4: CÔNG BẰNG CHO NGƯỜI TRỒNG LÚA: BAO GIỜ?

Chia sẻ bài viết