Cuộc chiến giữa Mỹ và Israel với Iran khiến hầu hết các nước trên thế giới lao đao vì thiếu nguồn cung dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và tính chất nghiêm trọng của nó buộc các nước phải đẩy mạnh chuyển đổi năng lượng.

Eo biển Hormuz nhìn từ trên cao. Ảnh: Reuters
Bài học quá đắt
Fatih Birol, Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nhận định quy mô gián đoạn nguồn cung dầu mỏ hiện nay nghiêm trọng hơn so với tất cả các cuộc khủng hoảng năm 1973, 1979 và 2022 cộng lại, đồng thời nhấn mạnh thế giới “chưa từng trải qua cú sốc năng lượng lớn như vậy”.
Tổ chức nghiên cứu năng lượng toàn cầu Ember ước tính, nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch khiến các nước tiêu tốn tổng cộng 1.700 tỉ USD trong năm 2024. Theo Ember, mỗi lần giá dầu tăng 10USD/thùng sẽ khiến chi phí nhập khẩu tăng thêm 160 tỉ USD/năm.
Để vượt qua cơn bão nhiên liệu hóa thạch này, các quốc gia như Pakistan, Ấn Độ hay Trung Quốc vốn phụ thuộc rất nhiều vào dầu khí nhập khẩu đã tăng cường năng lực năng lượng tái tạo, giúp họ linh hoạt hơn về nguồn cung. Về phần mình, các quốc gia châu Âu cũng đã chi hàng trăm tỉ USD để đa dạng hóa nguồn nhập khẩu năng lượng.
Quả thật, năng lượng tái tạo được xem là “cứu tinh”, giúp tăng cường an ninh năng lượng. Các quốc gia có tỷ lệ năng lượng tái tạo cao trong cơ cấu năng lượng đang chứng tỏ khả năng chống chịu tốt hơn trước những cú sốc về giá dầu, đặc biệt là Đan Mạch và Uruguay - những nước đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh sau khi xung đột nổ ra ở Ukraine. “Việc dựa vào dầu nhập khẩu giống như dựa vào kẻ buôn ma túy, bởi bạn phải liên tục quay lại. Trong khi đó, một khi nhập khẩu tấm pin mặt trời, bạn yên tâm sử dụng trong 2 thập kỷ tới” - Li Shuo - Giám đốc Trung tâm Khí hậu Trung Quốc tại Viện Chính sách xã hội châu Á (ASPI), bình luận.
Nguy cơ bất ổn "rình rập"
Mỹ - Iran đã tạm ngừng bắn và eo biển Hormuz được mở cửa trở lại. Tuy nhiên, phía trước vẫn còn nguy cơ bất ổn. Eo biển Hormuz, tuyến đường xuất khẩu chính cho dầu mỏ do các quốc gia vùng Vịnh sản xuất, được cho là hành lang quan trọng nhất đối với dầu khí bởi có rất ít lựa chọn thay thế. Nhưng Hormuz không phải là điểm nghẽn duy nhất.
Khi xung đột ở Trung Đông leo thang, giới chuyên gia bày tỏ lo ngại về một điểm nghẽn khác, đó là Bab el-Mandeb - eo biển nối liền kênh đào Suez và Biển Đỏ với Vịnh Aden, vận chuyển khoảng 6% lượng dầu mỏ giao dịch bằng đường biển của thế giới và từ lâu đã bất ổn. Năm 2023, một loạt vụ tấn công do phiến quân Houthi được Iran hậu thuẫn thực hiện đã buộc các tàu phải chuyển hướng vòng qua Mũi Hảo Vọng của Nam Phi. Hiện xuất hiện nhiều mối lo ngại rằng Houthi có thể tìm cách phong tỏa eo biển này bất kỳ lúc nào.
Tuy không bị cuộc xung đột ở Trung Đông gây ảnh hưởng nhưng các hành lang biển hẹp khác vẫn đối mặt nhiều rủi ro. Malacca, eo biển nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, là điểm nghẽn lớn nhất thế giới về vận chuyển dầu mỏ bằng đường biển và “nổi tiếng” với nạn cướp biển và trộm cắp. Theo báo cáo của Trung tâm Chia sẻ thông tin chống cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền tại châu Á (ReCAAP ISC), hơn 130 vụ cướp và trộm cắp đã xảy ra tại đây chỉ trong năm 2025.
Theo giới chuyên gia, sự gián đoạn ở bất kỳ điểm nghẽn nào trong số các điểm nghẽn nói trên đều khiến thế giới trở nên dễ bị tổn thương, bởi các quốc gia nhập khẩu dầu khí phụ thuộc vào dòng chảy năng lượng liên tục. Khi dòng chảy này bị gián đoạn, chuỗi cung ứng có thể bị phá vỡ, giá cả tăng vọt và nền kinh tế nhiều nước sẽ gặp khó khăn. Ngoài ra, giới phân tích cho rằng giá dầu thế giới trong tương lai khó có thể giảm sâu do nhu cầu toàn cầu đang tăng, trong khi các nguồn cung từ Trung Đông phải mất nhiều năm mới hồi phục.
Trước các thách thức an ninh dầu mỏ hiện nay, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc António Guterres nhấn mạnh: Con đường nhanh nhất để đạt được an ninh năng lượng không phải là khai thác thêm dầu khí, mà là tăng tốc phát triển năng lượng tái tạo. Theo ông, các nguồn năng lượng như gió và mặt trời có lợi thế cốt lõi, không thể bị phong tỏa hay trở thành công cụ gây sức ép địa chính trị.
TRÍ VĂN (Tổng hợp)