Kỳ 1: KHƠI NGUỒN NỘI LỰC
* Thu Hà
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đóng góp khoảng 18% GDP cả nước; cây lúa, con cá, con tôm... chiếm tỷ trọng rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu cả nước. Trong quá trình công nghiệp hóa vùng, nhiều khu công nghiệp (KCN) được quy hoạch và xây dựng hạ tầng, nhằm vực dậy tiềm năng, sự phát triển của vùng. Sau 15 năm hình thành (kể từ KCN đầu tiên- Trà Nóc năm 1995) và phát triển, nền kinh tế của vùng vẫn phát triển khá khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng mà vùng đóng góp. Gỡ nút thắt để ĐBSCL cất cánh là vấn đề mà các địa phương trong vùng đang nỗ lực thực hiện để ĐBSCL là điểm đến vững tin, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững hơn.
 |
|
TP Cần Thơ đang trên đường phát triển và đóng vai trò động lực phát triển kinh tế vùng ĐBSCL. Ảnh: T. HÀ |
SỨC BẬT...
Giai đoạn 2006- 2010, định hướng phát triển kinh tế- xã hội của các địa phương vùng ĐBSCL đều khẳng định xu hướng giảm dần tỷ trọng khu vực I (nông- lâm nghiệp) và tăng dần tỷ trọng khu vực II (công nghiệp- xây dựng) và III (thương mại- dịch vụ) trong cơ cấu GDP. Do vậy, nghị quyết phát triển kinh tế- xã hội của các tỉnh, thành đều đưa ra nhiều giải pháp thực hiện đảm bảo mục tiêu tăng trưởng. Nhiều chính sách ưu đãi đầu tư của các tỉnh, thành trong mời gọi đầu tư cũng được nhà đầu tư quan tâm tìm hiểu. Thêm vào đó, Chính phủ, địa phương quan tâm đầu tư hạ tầng giao thông vận tải như: cầu Rạch Miễu, cầu Cần Thơ, cầu Hàm Luông, đường cao tốc Trung Lương - TP Hồ Chí Minh, cảng Cái Cui giai đoạn I... góp phần thay đổi bộ mặt của vùng, tạo điều kiện để các địa phương thu hút đầu tư. Trong giai đoạn 2006- 2010, tốc độ tăng trưởng của các tỉnh, thành hầu hết đạt trên 11%; trong đó, TP Cần Thơ đạt 15,13%, Cà Mau 14,13%, Đồng Tháp 13,98%... Đến năm 2010, tỷ trọng khu vực II của vùng chiếm 28,66% trong cơ cấu GDP vùng. Các tỉnh, thành đều ưu tiên mời gọi đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, thương mại- dịch vụ. Toàn vùng hiện có trên 50.100 doanh nghiệp (DN) hoạt động trên lĩnh vực thương mại- dịch vụ và 126.772 cơ sở hoạt động trên lĩnh vực công nghiệp đã giải quyết việc làm cho trên 2 triệu lao động.
Theo ngành công thương các tỉnh, thành vùng ĐBSCL, từ năm 2005 đến nay, ngành công nghiệp, thương mại- dịch vụ đều đạt tăng trưởng với tốc độ cao. Trên lĩnh vực công nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp ước năm 2010 đạt gần 120.000 tỉ đồng, tăng 18,58%/năm và chiếm 15,37% so cả nước (năm 2005 chỉ đạt 51.150 tỉ đồng và chiếm 12,28% giá trị cả nước); các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu đạt trên 6,45 tỉ USD chiếm 10,63% so cả nước (năm 2005 chỉ đạt hơn 2,9 tỉ USD). Ngoài ra, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ toàn vùng hiện chiếm trên 18,8% thị phần cả nước, với 274.958 tỉ đồng (ước năm 2010)... Sự tăng trưởng liên tục của khối DN dân doanh đã khẳng định sự năng động, chủ động hội nhập và cũng là dấu ấn mới trong phát triển, thu hút đầu tư của vùng.
Ngoài ra, tốc độ thu hút vốn FDI của vùng cũng cải thiện đáng kể. Năm 2004, vốn FDI đăng ký đầu tư vào vùng ĐBSCL chỉ chiếm 3,5% về số dự án các nước với 161 dự án (khoảng 1,31 tỉ USD). Còn hiện tại, theo Cục Đầu tư nước ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 22-11-2010, toàn vùng có 539 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký trên 9,29 tỉ USD. Năm 2009, tỷ lệ giải ngân nguồn vốn FDI của vùng đạt khoảng 2,7 tỉ USD, chiếm 35% tổng vốn đăng ký. Đến năm 2010, tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, nên tiến độ giải ngân nguồn vốn FDI không đạt yêu cầu đề ra, nhưng cũng đạt nhiều kết quả quan trọng.
Phát biểu tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư ĐBSCL do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, (đầu tháng 9-2010), Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc khẳng định: “ĐBSCL là khu vực thu hút vốn FDI ngay từ khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực vào năm 1987. Vốn FDI vào vùng ĐBSCL tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 419 dự án (tổng vốn đăng ký trên 5,18 tỉ USD), chiếm 79,1% về số dự án và 56,3% về vốn đăng ký. Tuy còn nhiều hạn chế, nhưng sự phát triển của vùng thời gian qua khá ấn tượng, nhờ vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong khu vực có đường giao thông hàng hải, hàng không quốc tế quan trọng, nguồn nhân lực dồi dào và là trung tâm nông nghiệp lớn nhất Đông Nam Á”. Theo Bộ trưởng Võ Hồng Phúc, khi cơ sở hạ tầng của vùng ĐBSCL được cải thiện, việc xuất nhập khẩu hàng hóa có thể thực hiện ngay tại địa phương, không cần vận chuyển lên TP Hồ Chí Minh như hiện nay. Như vậy, ĐBSCL có đủ cơ sở để tạo bước đột phá trong đầu tư và phát triển vững chắc hơn trong những năm tới.
NHỮNG ĐẦU TÀU
Trong 5 năm qua, tốc độ phát triển kinh tế của vùng vẫn dựa vào lợi thế nông thủy sản, lương thực, nhưng phải thừa nhận sự bứt phá trên lĩnh vực công nghiệp đã đưa tỷ trọng công nghiệp tăng dần trong cơ cấu GDP. Năm 2005, tỷ trọng khu vực II trong GDP là 22,64%, đến năm 2010 được nâng lên mức 28,66% (công nghiệp chiếm trên 80%). Những địa phương hiện dẫn đầu khu vực về giá trị sản xuất công nghiệp như: TP Cần Thơ 19.286 tỉ đồng, tỉnh Long An 18.850 tỉ đồng, tỉnh Cà Mau 14.840 tỉ đồng, tỉnh Kiên Giang 13.357 tỉ đồng, tỉnh Đồng Tháp 9.944 tỉ đồng...
Tỉnh Long An hiện có nhiều KCN nhất vùng, với 23 KCN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập đến năm 2015, diện tích hơn 9.762ha. Hiện có 11 KCN đang hoạt động, diện tích trên 2.558ha, trong đó đất công nghiệp 1.692 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt gần 50,5%. Ông Phan Thành Phi, Trưởng Ban Quản lý các KCN Long An, cho biết: “Từ đầu năm 2010 đến nay, các KCN tỉnh thu hút thêm 49 dự án đầu tư mới, thuê lại hơn 70,6 ha đất. Trong đó, 19 dự án FDI, vốn gần 164 triệu USD (tăng gấp 5 lần so với năm 2009) và 30 dự án đầu tư trong nước, vốn 1.780 tỉ đồng. Các KCN Long An hiện có 411 dự án còn hiệu lực, trong đó 142 dự án FDI (vốn 1.246 triệu USD) và 269 dự án trong nước, vốn 11.982 tỉ đồng. Hiện có 200 doanh nghiệp đang hoạt động, với giá trị sản xuất công nghiệp chiếm 36% trên tổng giá trị toàn tỉnh và giải quyết việc làm cho 43.000 lao động”. Hiện có 21 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào KCN tỉnh. Ngoài ra, tỉnh còn quy hoạch 43 cụm công nghiệp (CCN), diện tích 5.770 ha; hiện 13 CCN đã đi vào hoạt động kinh doanh hạ tầng, thu hút 219 dự án (128 dự án đang hoạt động, giải quyết việc làm cho 19.000 lao động). Năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Long An chỉ đạt 8.786 tỉ đồng, đến năm 2010 ước khoảng 18.850 tỉ đồng. Là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếp giáp với TP Hồ Chí Minh nên Long An có điều kiện mời gọi đầu tư, phát triển công nghiệp. Với quỹ đất phát triển công nghiệp dồi dào (quy hoạch được duyệt đến năm 2010 là 15.000ha), sự năng động của các sở, ngành trong việc cải thiện môi trường đầu tư là nhân tố quan trọng, giúp Long An phát triển nhanh.
TP Cần Thơ giữ vai trò trung tâm động lực vùng ĐBSCL, hiện tỷ trọng công nghiệp chiếm 39,1% trong GDP. Thành phố hiện có 8 khu công nghiệp tập trung với tổng diện tích quy hoạch 2.164 ha (đất công nghiệp 1.590 ha), hiện thu hút 189 dự án đầu tư còn hiệu lực (vốn đăng ký 1,7 tỉ USD), giải quyết việc làm khoảng 33.921 lao động. Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố chỉ 8.218 tỉ đồng, đến năm 2010, giá trị tăng gần 2,4 lần và chiếm 16,08% giá trị toàn vùng. Số lượng cơ sở công nghiệp, tỷ lệ lấp đầy KCN cũng tăng nhanh, hiện KCN Trà Nóc 1 và 2 cơ bản lấp đầy diện tích đất công nghiệp. Ông Dương Nghĩa Hiệp, Phó Giám đốc Sở Công thương TP Cần Thơ, nói: “Ngành chế biến gạo, thủy sản, may mặc...được khuyến khích phát triển để giải quyết việc làm cho người lao động. Trong đó, gạo và thủy sản là hai mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực của thành phố. Hiện nay, thành phố đang khuyến khích DN đầu tư đổi mới công nghệ để tạo ra sản phẩm có chuỗi giá trị gia tăng cao. Đồng thời, phát triển công nghiệp phụ trợ, công nghệ cao có sức lan tỏa cả vùng”. Các công trình như cầu Cần Thơ, cảng Cái Cui, sân bay Trà Nóc... là những “đòn bẩy” cho thành phố thu hút đầu tư. Theo Quyết định 366/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị đã xác định: “TP Cần Thơ là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng ĐBSCL”. Trong giai đoạn 2009- 2015, Cần Thơ có 66 danh mục dự án ưu tiên đầu tư, trong đó 20 dự án do Trung ương quản lý. Thành phố đang tập trung nguồn để mời gọi đầu tư, phát huy nội lực của đô thị trung tâm vùng.
Ngoài ra, những địa phương ít lợi thế về hạ tầng giao thông, nhưng với nguồn nguyên liệu dồi dào đã thúc đẩy nhanh sự phát triển của ngành công nghiệp và giá trị sản xuất công nghiệp hiện tăng gấp rưỡi, gấp 2- 3 lần so với năm 2005 như: tỉnh Cà Mau chiếm 12,37%, Kiên Giang chiếm 11,14%, Đồng Tháp 8,29%... giá trị toàn vùng. Các tỉnh không ngừng nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, khuyến khích các thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Sự hình thành của các KCN, CCN là động lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng theo hướng công nghiệp hóa.
Mặc dù có sự phát triển vượt bậc, nhưng cũng phải thừa nhận rằng, sức cạnh tranh của các DN vùng còn nhiều yếu kém. Các chính sách đầu tư, thu hút đầu tư cũng chưa tạo được nét riêng của vùng so với các vùng khác. ĐBSCL đang gặp rất nhiều rào cản trong thu hút đầu tư.
--------------------
Kỳ 2: Còn nhiều rào cản trong thu hút đầu tư