12/12/2011 - 08:15

ĐBSCL trước thách thức biến đổi khí hậu

* Gia Bảo

Kỳ 3: Lãng phí nguồn tài nguyên

Chiếm khoảng 10% lượng nước sông Mekong, nguồn tài nguyên quý giá này phục vụ phát triển nông nghiệp, thủy sản và cấp nước (sinh hoạt, sản xuất công nghiệp) cho ĐBSCL. Ngoài lợi thế này, ĐBSCL còn có hệ thực vật đa dạng, với 2 khu dự trữ sinh quyển thế giới (Cà Mau, Kiên Giang) có rừng nguyên sinh đặc thù cùng đa dạng các loài sinh vật làm phong phú thêm nguồn tài nguyên của vùng mà không nơi nào hội tụ đủ. Tuy nhiên, việc giữ gìn và phát triển nguồn tài nguyên này vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn.

Nguy cơ cạn kiệt tài nguyên

Sản xuất nông nghiệp  chịu nhiều tác động do BĐKH (trong ảnh: mô hình trồng màu ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long). Ảnh: THU HÀ. 

Dòng chảy vào ĐBSCL chủ yếu bắt nguồn từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, nên ĐBSCL đang đối mặt với kế hoạch 12 dự án (11 đập thủy điện) trên dòng chính sông Mekong của các quốc gia trong lưu vực.

Tiến sĩ Nguyễn Hiếu Trung, Trưởng Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên (Đại học Cần Thơ), phân tích: “Kịch bản BĐKH hiện nay mới nhìn tổng quan, chưa có phân tích cụ thể cho từng tiểu vùng sinh thái ở ĐBSCL. Cái khó nữa là thiếu hệ thống quan trắc ở các địa phương, hệ thống thủy lợi nội đồng chưa có quan trắc cụ thể, nên muốn vận hành tối ưu hệ thống này rất khó do chỉ dựa vào thủy triều để quan trắc. Mùa lũ thì thừa nước, chúng ta xả lũ mà không trữ lại, do không có hệ thống trữ, chủ yếu trữ trên sông, rạch. Do vậy, khi nước từ thượng nguồn về ít thì xảy ra khô hạn hạ nguồn, vùng thiếu nước còn đối phó với tình trạng phèn nặng”. Theo tiến sĩ Trung, nếu lượng nước từ thượng nguồn về hạ nguồn thấp, nguồn cá về hạ nguồn không nhiều, sinh kế của người dân bị ảnh hưởng. Nếu lượng phù sa về ít sẽ gây ra xói lở trên sông và ven biển; môi trường ô nhiễm trầm trọng hơn, do chất thải của nhà máy sản xuất công nghiệp, nước thải sinh hoạt của dân cư đều thải trực tiếp ra sông, rạch. Mặt khác, thời gian qua, việc xây dựng các đê bao ngăn mặn, ngọt hóa một số vùng (bán đảo Cà Mau, Gò Công, Ba Lai...) gây không ít tranh cãi về mặt hiệu quả của các công trình này. Việc vận hành hệ thống cống trên các tuyến đê vùng ngọt hóa nếu không tính toán hợp lý sẽ làm môi trường nước ô nhiễm và bạc màu đất khu vực này gia tăng, do nước lưu thông không thông suốt.

Theo tính toán của các nhà khoa học, tổng lượng nước bình quân hàng năm của sông Mekong khoảng 500km3. Lượng nước sông Mekong chảy vào Việt Nam khoảng 50km3, chiếm 10% tổng lượng nước sông Mekong, lượng nước này còn được bổ sung bởi lượng nước mưa hàng năm tại ĐBSCL khoảng 16,8km3. ĐBSCL chịu sự tác động của hai khối nước lớn là nước sông Mekong, vừa chịu ảnh hưởng của hệ thống sông ngòi, chế độ thủy triều biển Đông và vịnh Thái Lan. Ngoài ra, ĐBSCL còn có trữ lượng nước ngầm lớn trên 84,2 triệu m3/ngày, sản lượng khai thác an toàn được đánh giá ở mức 1 triệu m3/ngày. Hiện tại, mực nước ngầm đang được khai thác ở mức 105.800m3/ngày, trong khi yêu cầu phục vụ cho sản xuất công nghiệp và sinh hoạt khoảng 1 triệu m3/ngày.

Tuy nhiên, tài nguyên nước bề mặt trên sông Tiền, sông Hậu và các cửa sông thông ra biển của ĐBSCL đã có các dấu hiệu nhiễm bẩn chất hữu cơ, vi sinh. Theo kết quả quan trắc môi trường nước cho thấy các chỉ tiêu bị nhiễm bẩn là: BOD, COD, Coliform, H2S, NH4, phèn sắt... mà nguyên nhân là do các nguồn thải sản xuất công nghiệp, đô thị và các khu dân cư, nguồn thải nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp... chưa xử lý đã thải vào hệ thống sông rạch. Trong khi nguồn nước ngầm được khai thác và sử dụng cho sinh hoạt đời sống, sản xuất công nghiệp, canh tác nông nghiệp chưa được kiểm soát chặt chẽ, làm sự sụt giảm mực nước ngầm ở một số nơi. Vấn đề nhiễm Asen trong nước ngầm ở ĐBSCL đã được phát hiện ở Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long, Bạc Liêu...

Ở 9 cửa sông lớn vùng ĐBSCL có nhiều loài tôm, cá giá trị kinh tế cao, việc di cư và sinh sản các loài này phụ thuộc vào tình trạng của các cửa sông, thủy triều. Trong khi tổng lượng bùn thải và chất thải nuôi trồng thủy sản chưa qua xử lý ở khư vực ĐBSCL khoảng 456 triệu m3/năm, đây là nguồn gây ô nhiễm môi trường đất và nước.

Hạ nguồn khó phát huy lợi thế

Diện tích đất lâm nghiệp trong vùng chỉ còn khoảng 356.200ha; tính đa dạng sinh học ở các hệ sinh thái rừng ngập mặn và rừng tràm trong khu vực ĐBSCL thể hiện qua 239 loài cây, 36 loài thú, 182 loài chim đầm lầy, 34 loài bò sát và 6 loài lưỡng cư. Tại vùng biển và ven biển có đến 260 loài cá được ghi nhận và rất nhiều loại nhuyễn thể, giáp xác sinh sống. Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà khoa học thì tính đa dạng sinh học trong khu vực đã bị suy giảm nghiêm trọng. Ngoài ra, 10 khu đất thuộc vùng bảo tồn đất ngập nước của quốc gia như: Hà Tiên, Vườn quốc gia Tràm Chim, khu dự trữ thiên nhiên U Minh Thượng, Vườn quốc gia Đất Mũi, rừng đặc dụng Vồ Dơi, Bãi bồi Cà Mau, Trà Sư, Láng Sen và Lung Ngọc Hoàng, thảm cỏ biển ở đảo Phú Quốc... cũng đứng trước nguy cơ cao.

Thông tin về 11 đập thủy điện trên dòng chính Mekong, theo đánh giá của Ủy hội Mekong quốc tế (MRC)- tổ chức lưu vực sông liên Chính phủ Campuchia, Thái Lan, Lào và Việt Nam thành lập. Từ tháng 5-2009 đến nay, MRC phối hợp cùng các cơ quan chuyên môn tiến hành đánh giá tác động của đập thủy điện đến đời sống người dân, sinh kế, sự phát triển của các quốc gia vùng hạ lưu Mekong; đồng thời thực hiện các hội thảo tham vấn, thu thập ý kiến của nhiều quốc gia, nhà khoa học để cho ra kế hoạch hành động cụ thể. Hiện tại, MRC chưa đưa ra kế hoạch nào cụ thể và vẫn tiếp tục đánh giá thêm những tác động trên. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam, người dân vùng ĐBSCL, thì đập thủy điện chắc chắn tác động lớn đến sự phát triển của vùng. Nông dân Mai Chí Tâm, xã Thới Đông, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ, cho biết: “Theo thông tin từ các nhà khoa học, cơ quan chuyên môn, nếu các đập thủy điện trên dòng Mekong được xây dựng sẽ ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của người dân ĐBSCL. Nếu nước đổ về vùng ĐBSCL ít, mặn vào nội đồng, nông dân làm lúa lo không đủ giống chống chịu mặn, hạn để sản xuất, khi những bất lợi này xảy ra đồng thời”. Ông Tâm canh tác 3ha đất lúa, 4ha ươm cá tra giống, ông cho biết chi phí sản xuất ngày một tăng, người dân sẽ chịu thiệt thòi, bởi sản xuất nông nghiệp đầy rủi ro.

Theo kết quả nghiên cứu của thạc sĩ Nguyễn Hữu Trí và thạc sĩ Võ Duy Thanh, Trung tâm nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp, Đại học An Giang, ở tỉnh An Giang, mùa lũ có 67% dân vùng lũ tham gia đánh bắt cá, 7% đánh bắt thường xuyên, tương đương với 23.389 hộ dân với 41.000 lao động, 2.800 tàu thuyền cơ giới và 1.500 thuyền thô sơ. Trong giai đoạn 2000- 2011, lượng cá về hạ nguồn suy giảm 60%; năm 2010, sản lượng thủy sản giảm ½ so với năm 2007, tăng đột biến trong năm 2011 do độ sâu của mực nước lũ và diện tích ngập lũ. Nguyên nhân sự suy giảm do các tác nhân như: diện tích ngập lũ thu hẹp (từ 230.000ha, năm 2011 giảm còn 100.000ha), thâm canh sản xuất nông nghiệp, các phương tiện đánh bắt đến 33% là đánh bắt hủy diệt (xiệt, cào); chính sách khai thác thủy sản của Campuchia và tác nhân của việc xây đập thủy điện trên các chi lưu... Nếu mất nguồn cá trắng sẽ ảnh hưởng lớn đến nguồn thu nhập của 83,8% cư dân vùng lũ.

Còn tỉnh Sóc Trăng có trên 70% diện tích tự nhiên bị mặn đe dọa trong 6 tháng mùa khô. Nếu thay đổi dòng chảy trên dòng chính sông Mekong sẽ làm thay đổi mọi chế độ nguồn nước của tỉnh Sóc Trăng. Theo tính toán của các nhà khoa học, sự thiếu hụt nguồn nước ngọt từ sông Mekong đổ về trong mùa khô khiến tình trạng xâm nhập mặn đến sông Cái Côn, kênh Quản lộ Phụng Hiệp và đe dọa 145.000ha lúa của Sóc Trăng, mặn kéo dài làm sản lượng lúa của tỉnh giảm xuống dưới mức 800.000 tấn/năm (lúa hè thu bị giảm năng suất). Sông Cái Côn là sông đào có mặt cắt và độ sâu lớn nhất vùng ĐBSCL và kênh dẫn nước ngọt chính cho hơn phân nửa diện tích tỉnh Sóc Trăng; đồng thời, đưa nước về vùng phía Đông Nam Hậu Giang, Bạc Liêu và tới TP Cà Mau, nếu mặn đi vào sông Cái Côn sẽ tác động mạnh mẽ đến khu vực nói trên. Và hạ nguồn khó phát huy lợi thế về sản xuất lúa, nuôi trồng thủy sản vùng ven biển...

Kỳ cuối: Sống chung với biến đổi khí hậu

* Gia Bảo

Chia sẻ bài viết