25/10/2026 - 06:40

Đàn Tiên Cái Khế 

“Hồi những năm đầu của thế kỷ này, Cần Thơ là nơi nổi danh với đạo tu Tiên, cụ thể là việc cầu cơ bút. Thí dụ như đình Bình Thủy thờ ông Đinh Công Chánh, Đàn Tiên ở Cái Khế thỉnh mời chư Tiên về làm thơ, đây là dấu ấn của phong trào Duy Tân buổi đầu…” - nhà Nam Bộ học Sơn Nam nhận định như vậy trong cuốn “Danh thắng miền Nam”.

Dấu xưa Đàn Tiên Cái Khế hiện vẫn được giữ vẹn nguyên tại chùa Hiệp Minh trên đường Huỳnh Thúc Kháng, phường Ninh Kiều, ven rạch Cái Khế, trong khu vực chợ Mít Nài.

Sân kiểng và bàn Tiên Trưởng phía trước chánh điện. 

Từ Quang Xuân đến Hiệp Minh

Như lời thuật của nhà Nam Bộ học Sơn Nam, nhắc đến tu Tiên, giáng cơ cầu bút, nhiều người nghĩ đến vùng đất Bình Thủy, nhất là ở Nam Nhã Phật Đường (hay còn gọi là chùa Nam Nhã, Di tích cấp quốc gia). Nơi đây xưa kia, các nhân sĩ, thân hào thường tụ họp đánh cờ, thưởng rượu ngâm thơ, xướng họa và thỉnh Tiên để chỉ bảo đàng lành, cứu giúp dân tình. Ông Bồi bái Đinh Công Chánh nổi tiếng với việc được giáng đàn cho thơ, lời khuyến thiện, đơn cử là cuốn “Hiếu Để Liêm Tiếc”. Ông được dân làng Bình Thủy tôn làm Thần, kính trọng gọi “Đinh Công Chánh tôn Thần”, thờ trang trọng ở đình Bình Thủy.

Ông Phạm Ngọc Ngưu là người Long Xuyên, hay tìm đến vùng Bình Thủy giao lưu, kết tình bằng hữu. Sau đó, ông quyết định cất một ngôi chùa cho riêng mình và dòng họ, cũng để làm nơi bà con tới lui tu tập, xin thuốc chữa bệnh. Ông Phạm Ngọc Ngưu bàn bạc với con rể là ông Từ Thiện Phước, cùng các ông: Trần Ngọc Diệm, Đoàn Hữu Lương (cha Luật sư Đoàn Hữu Cầu, chủ nhân Vườn Thầy Cầu nức tiếng) lập một Đàn Tiên trong khuôn viên nhà mình, trên đường Paul Emery (sau đổi là đường Cống Quỳnh, nay là đường Huỳnh Thúc Kháng). Mùng 1-7 năm Đinh Mùi (1907), đàn cơ đầu tiên được tổ chức. Đàn có tên là chùa Quang Xuân, cũng là gốc tích chùa Quang Xuân bây giờ. Nên có thể nói, chùa Quang Xuân là cái nôi, cội nguồn của phái Tiên Đàn.

Được gieo duyên với Tiên Đàn, ông Phan Thông Lý (tức Cả Lý), người dân địa phương, sau khi con của ông được chữa lành trong cơn bạo bệnh, đã tìm đến chùa Quang Xuân sám hối, tích thiện. Ông tự nguyện hiến trên 6 công đất để cất thêm một ngôi chùa mới cặp bên, cách một mương nước chưa tới 3 thước. Chùa được cất năm Tân Hợi 1911 với tên gọi Chánh Minh, bằng cây lá, sàn gỗ đơn sơ. Đó cũng là tên cũ của chùa Hiệp Minh.

5 năm sau, chùa Chánh Minh được xây dựng khang trang hơn với sự chuẩn thuận của quan chức tổng Định Bảo và hương chức làng Thới Bình. Chánh Minh sau đổi thành Hiệp Minh, qua nhiều lần chùa được tái thiết, trùng tu, vào các năm 1932, 1942, 2003, 2009… đã khang trang, nghiêm cẩn như bây giờ. Nhắc đến chùa Hiệp Minh, bà con vẫn thường quen gọi Đàn Tiên Cái Khế.

Gọi là Đàn Tiên vì lúc mới thành lập, các tao nhân mặc khách đã men theo rạch Cái Khế, tìm về chùa để lập đàn cầu cơ cùng các đạo hữu. Đàn cơ là một buổi lễ cầu cơ theo hình thức thỉnh Tiên giáng đàn qua hình thức thông công bằng cơ bút. Qua giáng cơ, các chân lý về đường hướng đạo pháp, chỉ bảo đàng ngay, tu tâm dưỡng tánh, thiên cơ, được ghi lại. Đây cũng là nhen nhóm phong trào Duy Tân buổi đầu ở miền Nam.

Cột phướn.

Nét cẩm tú chùa xưa

Chùa Hiệp Minh nay dù nằm trong khu vực phố chợ nhưng vẫn giữ nét thanh tịnh, trang nghiêm, u tích, khép mình sau cánh cổng chùa. Dấu xưa vẫn còn giữ vẹn trong ngôi chùa này. Đầu tiên, đó là gốc mít nài già cỗi, vẫn soi bóng bên hông chùa, lặng thầm lý giải về địa danh dân gian Mít Nài ở xóm nhỏ này.

Vừa qua khỏi cổng tam quan, du khách sẽ ấn tượng với cột phướn cao 25m, sừng sững vươn trời. Cột có từ năm 1935, do đệ tử chùa là đốc công Trần Quang An hỉ cúng. Thời điểm dựng nên, cột phướn cao 25m trước sân chùa thật sự là một “kỳ quan” của Cần Thơ xưa, cả về kiến trúc lẫn mỹ thuật. Cột phướn bằng bê tông, cốt thép hình bát giác, thân chạm như vẩy rồng. Chân cột tròn vừa 2 người ôm. Tới ngày lễ lớn, lễ Thượng Phướn được tiến hành trang trọng. Cũng cần nói thêm, nhưng năm đầu thế kỷ XX, khu vực trung tâm Cần Thơ bây giờ có những ngôi chùa lớn như chùa Thới Long ở cầu Nhị Kiều (Đôi Mới), chùa Cây Bàng ở chợ Cả Đài…

Trong chùa Hiệp Minh có các kiến trúc liêu phòng như hậu liêu, cấm phòng, trai đường… và chánh điện. Được nhiều người kỳ thú khám phá là sân Tiên Trưởng. Đó là quần thể kiến trúc gồm sân kiểng và bàn Tiên Trưởng. Sân kiểng có hàng trăm cây kiểng như kim quít, tùng, bách, khế, liễu… tuổi đều hơn trăm năm, khiến chốn này như “bồng lai tiên cảnh”. Bàn Tiên trưởng gồm bàn và 2 trường kỷ, có cách đây tròn 100 năm, năm 1926.

Vừa ra khỏi không gian sân Tiên Trưởng, hai bên ngoài dẫn lối lên chánh điện, có một khu vườn tao nhã tên gọi “Thất trùng hàng thọ”. “Thất trùng” là vì đạo hữu Trương Văn Từ (pháp danh Mỹ Đức, người hiến cúng bàn Tiên trưởng) thiết kế 7 con đường cẩn gạch tiểu, trải bằng đá trứng để điểm trang cho khu vườn. Nơi đây, hàng loạt cây kiểng cổ, quý như khế, mai vàng, mai chiếu thủy, mai tứ quý, ngâu, nguyệt quế… thi nhau khoe dáng, tỏa hương. Bây giờ, do triều cường nên “Thất trùng hàng thọ” được tôn cao, thay bằng những chậu kiểng, nhưng dáng vẻ thanh tao của hàng kiểng cổ trăm năm vẫn giữ nguyên.

Đạo hữu Mỹ Đức còn hiến cúng hòn non bộ vào năm 1927, đã 99 năm vẫn còn tồn tại nguyên. Hòn có kiến trúc rất đẹp, đá được mua từ Nha Trang vào, do các nghệ nhân Gò Công thực hiện. Hòn tái hiện cảnh Tiên thoát tục, núi non trùng điệp, thâm sơn cùng cốc… Trong khuôn viên chùa Hiệp Minh hiện còn có nơi tái hiện cảnh lập Đàn Tiên, cầu cơ giáng bút, để du khách hiểu thêm về lịch sử chùa.

Nhắc đến chùa Hiệp Minh, Đàn Tiên Cái Khế, hẳn có 2 điều để nhiều người nhớ nhất. Đó là thuở ban đầu Đàn Tiên bên dòng Cái Khế và khung cảnh cây kiểng lộ vết thời gian, trầm mặc giữa kiểng chùa thanh tịnh.

Bài, ảnh: ĐĂNG HUỲNH

Chia sẻ bài viết