24/10/2026 - 14:43

Bà Lê Thị Thanh Lam, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, ngày 24-10, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Lê Thị Thanh Lam, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, tham gia đóng góp một số ý quan trọng về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi).

Bà Lê Thị Thanh Lam phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ ngày 24-10.

Theo đại biểu, việc sửa đổi Luật An toàn thực phẩm là hết sức cần thiết và cấp bách nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khỏe nhân dân, hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước trong tình hình mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản, thực phẩm Việt Nam trong hội nhập quốc tế. Để góp phần hoàn thiện dự thảo Luật, đại biểu đóng góp một số ý kiến sau:

Thứ nhất, về những hành vi bị nghiêm cấm (Điều 7).

Hiện nay, vi phạm trên không gian mạng và việc sử dụng hình ảnh bác sĩ, dược sĩ, cơ sở y tế uy tín để quảng cáo gian dối thực phẩm chức năng, thực phẩm bảo vệ sức khỏe bùng nổ, gây bức xúc dư luận và thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng. Khoản 12 và khoản 13, Điều 7 đã đưa các hành vi này vào danh mục cấm. Tuy nhiên, hành vi lợi dụng không gian mạng để phát tán thông tin sai sự thật về độ an toàn của thực phẩm nhằm thao túng thị trường hoặc cạnh tranh không lành mạnh lại chưa được bổ sung rõ nét. Đề nghị bổ sung thêm 1 điểm tại khoản 12 hoặc khoản 13, Điều 7: “Cấm hành vi đưa thông tin sai sự thật, giả mạo kết quả thử nghiệm về an toàn thực phẩm trên không gian mạng nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh hoặc gây hoang mang dư luận.”.

Thứ hai, về trách nhiệm của chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian, chủ quan mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử (Điều 13).

Thực tế quản lý cho thấy các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội thường đẩy trách nhiệm kiểm soát chất lượng cho người bán. Quy định tại Điều 13 yêu cầu chủ quản sàn thương mại điện tử kiểm duyệt giấy tờ pháp lý, nhưng chưa quy định trách nhiệm chế tài kỹ thuật khi phát hiện vi phạm. Nếu sàn không chủ động tháo gỡ hoặc khóa tài khoản vi phạm thì quy định kiểm duyệt chỉ mang tính hình thức. Đề nghị bổ sung nghĩa vụ bắt buộc tại Điều 13: “Chủ quản nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm áp dụng ngay biện pháp kỹ thuật gỡ bỏ sản phẩm, tạm khóa hoặc đóng vĩnh viễn gian hàng vi phạm trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được cảnh báo của cơ quan quản lý nhà nước hoặc phản ánh có căn cứ của người tiêu dùng.”.

Thứ ba, về hệ thống cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm (Điều 19).

Quy định tại khoản 4, Điều 19 yêu cầu cơ sở sản xuất, kinh doanh phải cập nhật dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống” vào hệ thống. Quy định này đúng hướng chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, đối với hàng triệu hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ, nông hộ tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hạ tầng công nghệ và kỹ năng số còn rất hạn chế. Nếu áp đặt bắt buộc ngay lập tức sẽ tạo ra rào cản pháp lý và gánh nặng chi phí tuân thủ quá sức cho người dân. 

Đề xuất điều chỉnh khoản 4, Điều 19 theo hướng phân loại đối tượng: Bắt buộc áp dụng ngay đối với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất quy mô công nghiệp và cơ sở nguy cơ cao; đối với cơ sở nhỏ lẻ thì áp dụng lộ trình hỗ trợ chuyển đổi số dần dần. Đồng thời, bổ sung vào Điều 5 (Chính sách của Nhà nước) cơ chế hỗ trợ ngân sách và kỹ thuật cho các hộ nhỏ lẻ trong việc tiếp cận nền tảng số và mã số truy xuất nguồn gốc.

Thứ tư, về lộ trình thực hiện phân tích nguy cơ về an toàn thực phẩm (Điều 53).

Khoản 2, Điều 53 quy định: “Trong giai đoạn chưa có kết quả phân tích nguy cơ về an toàn thực phẩm... chưa thực hiện điều chỉnh biện pháp quản lý an toàn thực phẩm theo nguy cơ….”. Quy định này tạo ra rủi ro thụ động trong quản lý. Nếu việc phân tích nguy cơ bị chậm tiến độ do thiếu nguồn lực, cơ quan quản lý không thể điều chỉnh tăng tần suất kiểm tra hay thắt chặt quản lý đối với các mặt hàng đang có dấu hiệu mất an toàn đột xuất. Đề nghị sửa đổi khoản 2, Điều 53: Trong trường hợp chưa có kết quả phân tích nguy cơ đầy đủ nhưng xuất hiện sự cố ngộ độc thực phẩm, cảnh báo khẩn cấp từ quốc tế hoặc các dấu hiệu rủi ro rõ ràng, cơ quan quản lý nhà nước được quyền áp dụng ngay các biện pháp kiểm soát tạm thời (tăng tần suất hậu kiểm, kiểm tra chặt) để bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Thứ năm, về hậu kiểm về an toàn thực phẩm (Điều 57) và xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm (Điều 58).

Đại biểu cho rằng, chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” là chủ trương đúng đắn, nâng cao trách nhiệm tự giác của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động hậu kiểm hiện nay còn chồng chéo giữa các ngành, gây phiền hà cho doanh nghiệp; đồng thời mức phạt vi phạm hành chính ở một số lĩnh vực chưa đủ sức răn đe so với siêu lợi nhuận từ việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn, thực phẩm giả.

Tại Điều 57 đề nghị bổ sung nguyên tắc hậu kiểm liên ngành: “Thực hiện hậu kiểm theo kế hoạch thống nhất, 1 năm không quá 1 lần kiểm tra định kỳ đối với một doanh nghiệp, trừ trường hợp phát hiện dấu hiệu vi phạm đột xuất.”.

Tại Điều 58 đề nghị nâng mức xử phạt tiền tối đa đối với các hành vi cố ý sử dụng chất cấm, hóa chất ngoài danh mục, sản xuất thực phẩm giả; đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung vĩnh viễn cấm hành nghề sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cá nhân tái phạm nhiều lần.

PV (lược ghi)

Chia sẻ bài viết