Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 24-10, sau khi nghe các tờ trình và báo cáo thẩm tra, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Triệu Thị Ngọc Diễm, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Bà Triệu Thị Ngọc Diễm phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ sáng 24-10.
Qua nghiên cứu dự thảo Luật và hồ sơ kèm theo, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện, giảm thủ tục cho người dân, doanh nghiệp và nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương.
1. Về tiêu chí về môi trường để phân loại dự án đầu tư (Điều 28).
Trong dự thảo, yếu tố nhạy cảm về môi trường chủ yếu được xác định qua mức độ chiếm dụng đất, mặt nước, biển tại rừng, khu bảo tồn và một số khu vực có giá trị sinh thái. Quy định này chưa nêu khu dân cư tập trung và nguồn nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
Từ thực tế đó, đại biểu cho rằng việc phân loại dự án phải xem xét cả nơi tiếp nhận tác động. Một cơ sở có thể không sử dụng đất rừng, không nằm trong khu bảo tồn, nhưng nếu xả thải vào nguồn nước phục vụ sinh hoạt hoặc phát tán ô nhiễm đến khu dân cư thì vẫn cần được nhận diện đầy đủ về mức độ rủi ro. Chỉ xem phần diện tích dự án chiếm dụng sẽ chưa bao quát được những trường hợp này.
Đề nghị bổ sung vào điểm b, khoản 1, Điều 28 các yếu tố: khu dân cư tập trung; nguồn nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt và vùng bảo hộ vệ sinh, khu vực lấy nước sinh hoạt. Việc xác định yếu tố nhạy cảm phải căn cứ vào phạm vi, mức độ tác động của dự án, kể cả tác động ngoài ranh giới sử dụng đất.
Đồng thời, giao Chính phủ quy định rõ ngưỡng, khoảng cách và tiêu chí xác định mức độ tác động để áp dụng thống nhất, tránh việc chỉ cần ở gần khu dân cư là mọi dự án đều bị nâng mức quản lý. Tương tự, cần rà soát tương ứng Điều 30 về đánh giá tác động môi trường và Điều 39 về giấy phép môi trường.
2. Quy định chung về bảo vệ môi trường nước mặt và hoạt động bảo vệ môi trường nước mặt (Điều 7, Điều 8).
Dự thảo đang đặt điều kiện hạn chế xả thải đối với nguồn nước không còn khả năng chịu tải đối với “tất cả các thông số bắt buộc đánh giá”; còn trường hợp vẫn chịu tải được một hoặc một số thông số thì giao Chính phủ quy định chi tiết.
Theo đại biểu, nguyên tắc kiểm soát phải được xác định rõ ngay trong Luật. Một nguồn nước có thể đã không còn khả năng tiếp nhận thêm chất hữu cơ nhưng vẫn còn khả năng tiếp nhận một chất khác. Nếu chỉ vì còn 1 thông số chưa vượt giới hạn mà tiếp tục cho tăng lượng chất ô nhiễm đã quá tải thì chất lượng nguồn nước sẽ tiếp tục suy giảm.
Đây là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp với việc cải tạo các kênh, rạch hiện nay. Các địa phương nỗ lực đầu tư nạo vét, thu gom rác, chỉnh trang bờ rạch, nhưng hiệu quả khó duy trì nếu lượng chất gây ô nhiễm tiếp tục tăng. Mỗi cơ sở đáp ứng giới hạn nồng độ tại điểm xả chưa đủ để bảo đảm cả dòng kênh có thể tiếp nhận tổng lượng chất thải từ nhiều nguồn.
Vì vậy, đề nghị khoản 2, Điều 7 nên quy định theo hướng: khi nguồn nước không còn khả năng chịu tải đối với 1 hoặc 1 số thông số ô nhiễm, dự án mới và dự án mở rộng không được làm tăng tổng tải lượng của chính thông số đó vào nguồn tiếp nhận. Việc xem xét dự án xử lý nước thải để cải thiện môi trường phải dựa trên hiệu quả giảm ô nhiễm thực tế.
Cùng với đó, cần bổ sung tại khoản 2 và khoản 3, Điều 8 trách nhiệm công bố, cập nhật khả năng chịu tải theo từng đoạn sông, kênh, rạch, từng thông số chủ yếu và điều kiện theo mùa. Chính phủ quy định thời hạn cập nhật và cách đánh giá khi chưa đủ dữ liệu. Không nên mặc nhiên coi nguồn nước còn khả năng tiếp nhận chỉ vì cơ quan quản lý chưa công bố kết quả đánh giá.
Nội dung này cũng đã được Báo cáo thẩm tra số 873 nêu tại trang 16 và 17. Đề nghị tiếp thu thành nguyên tắc bắt buộc trong Luật để cơ quan cấp phép và doanh nghiệp đều có căn cứ rõ ràng thực hiện.
3. Về phân loại rác phải đi cùng dịch vụ thu gom phù hợp và trách nhiệm rõ ràng của đơn vị cung ứng (khoản 3, Điều 75; khoản 2 và khoản 4, Điều 77; khoản 7, Điều 79).
Báo cáo tổng kết số 10661 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ghi nhận các vướng mắc cụ thể: một số nơi ở nông thôn chưa thu gom được rác do đường giao thông khó tiếp cận; việc thu gom rác sau phân loại còn lúng túng, có tình trạng nhập chung các nhóm rác đã phân loại.
Như vậy, kết quả phân loại phụ thuộc cả vào cách tổ chức dịch vụ. Người dân đã dành công sức tách riêng từng loại rác nhưng xe thu gom lại trộn chung thì rất khó thuyết phục họ duy trì việc làm đó. Mặt khác, ở nơi chưa có tuyến thu gom phù hợp, chỉ yêu cầu người dân thực hiện nghĩa vụ sẽ chưa giải quyết được lượng rác phát sinh hằng ngày.
Đại biểu thống nhất việc khoản 3, Điều 75 cho phép địa phương quyết định cách phân loại phù hợp điều kiện thực tế, bảo đảm tối thiểu 2 nhóm theo dự thảo. Tuy nhiên, đề nghị bổ sung trách nhiệm của UBND cấp tỉnh phải công bố đồng thời phương án phân loại, phương án thu gom, vận chuyển, xử lý tương ứng, trong đó xác định địa bàn, tiến độ, kinh phí và đơn vị thực hiện.
Khoản 4, Điều 77 đã có yêu cầu về phương tiện phù hợp với từng loại rác. Cần bổ sung rõ trách nhiệm không trộn lẫn các nhóm chất thải phải được thu gom riêng; đưa việc duy trì phân loại, tần suất thu gom và xử lý phản ánh của người dân thành nội dung kiểm tra, nghiệm thu dịch vụ.
Đối với quyền từ chối thu gom tại khoản 2, Điều 77, đề nghị bổ sung điều kiện: đã có hướng dẫn công khai, có dịch vụ thu gom riêng phù hợp và xác định được việc không tuân thủ thuộc trách nhiệm của người giao rác. UBND cấp xã phải tổ chức phương án xử lý kịp thời lượng rác bị từ chối, đồng thời xử lý vi phạm theo thẩm quyền, tránh để rác tồn đọng gây ô nhiễm cho cả khu dân cư.
Đối với khoản 6, khoản 7, Điều 79, đề nghị lộ trình tính giá theo khối lượng hoặc thể tích phải được công khai, có mốc thực hiện và đánh giá hằng năm trong khung lộ trình do Chính phủ quy định. Người dân cần biết mình phải trả cho dịch vụ nào, được thu gom với tần suất ra sao và phản ánh ở đâu khi dịch vụ không được thực hiện đúng.
4. Đối với quy định xử lý các bãi rác tồn đọng (khoản 5, Điều 80).
Hiện nay, tại các địa phương, nhiều bãi rác lộ thiên đang hoạt động; trong đó có nhiều bãi rác đã quá tải. Lượng rác tồn đọng tại các bãi đang hoạt động nhiều, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Tình trạng này cho thấy việc đầu tư thêm công suất xử lý rác mới phải được thực hiện đồng thời với xử lý rác tồn đọng. Một bãi rác ngừng tiếp nhận vẫn cần kiểm soát nước rỉ rác, khí thải, nguy cơ cháy và theo dõi ảnh hưởng đến khu vực xung quanh.
Điều 80 đã quy định nghĩa vụ cải tạo, quan trắc sau đóng bãi và trách nhiệm của cấp tỉnh bố trí nguồn lực đối với bãi do nhà nước quản lý, bãi tự phát. Vấn đề cần làm rõ thêm là thứ tự ưu tiên, thời hạn thực hiện, nguồn kinh phí và trách nhiệm trong trường hợp chủ thể có nghĩa vụ xử lý không còn khả năng thực hiện.
Đề nghị sửa khoản 5, Điều 80 theo hướng: UBND cấp tỉnh phải kiểm kê, phân loại mức độ rủi ro và công khai kế hoạch xử lý các bãi thuộc trách nhiệm quản lý; xác định rõ cơ quan thực hiện, tiến độ, kinh phí và yêu cầu quan trắc sau cải tạo. Cần ưu tiên bãi có nguy cơ ảnh hưởng đến khu dân cư, nguồn nước sinh hoạt và khu vực thường xuyên ngập.
Đồng thời, bổ sung cơ chế Nhà nước tổ chức xử lý kịp thời khi có nguy cơ gây hậu quả nghiêm trọng mà chủ thể có nghĩa vụ chưa được xác định hoặc không đủ khả năng xử lý. Việc sử dụng kinh phí phải được kiểm soát theo pháp luật ngân sách và không làm mất nghĩa vụ hoàn trả của tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khi có căn cứ xác định. Với khối lượng tồn đọng vượt khả năng cân đối của địa phương, cần có tiêu chí hỗ trợ từ ngân sách trung ương theo mức độ rủi ro và khả năng ngân sách, tránh kéo dài việc xử lý chỉ vì chưa thu xếp được nguồn vốn.
PV (lược ghi)