24/10/2026 - 13:35

Ông Đào Chí Nghĩa, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 24-10, Quốc hội thảo luận ở tổ. Ông Đào Chí Nghĩa, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, tham gia đóng góp một số ý quan trọng về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Ông Đào Chí Nghĩa phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ sáng 24-10.

Thứ nhất, về bảo vệ môi trường biển, vùng bờ và quyền tiếp cận biển của người dân tại Điều 51 và Điều 23.

Đại biểu thống nhất với định hướng quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên biển trong giới hạn sức chịu tải của hệ sinh thái, tăng cường kiểm soát ô nhiễm, quản lý rác thải biển và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, quy định về khoảng lùi xây dựng, hành lang bảo vệ bờ biển và hạn chế quyền tiếp cận biển cần được thiết kế dựa trên dữ liệu khoa học, công khai và có lộ trình thực hiện phù hợp.

Tại Điều 51 dự thảo quy định xác định khoảng lùi xây dựng cần dữ liệu đường bờ, bản đồ xói lở, kịch bản biến đổi khí hậu và sự tích hợp với hồ sơ địa chính; trong khi dữ liệu tại một số địa phương chưa đầy đủ, đồng bộ. Vì vậy, đề nghị quy định nguyên tắc, phương pháp và trách nhiệm công bố dữ liệu thống nhất; đồng thời có lộ trình áp dụng theo điều kiện từng địa phương, tránh áp dụng đồng loạt khi chưa đủ cơ sở dữ liệu, gây xáo trộn quyền sử dụng đất, hoạt động xây dựng hợp pháp và phát sinh tranh chấp.

Điều 23 dự thảo, cần bảo đảm quyền tiếp cận biển hợp pháp của người dân; việc hạn chế chỉ thực hiện khi thật sự cần thiết, có căn cứ pháp lý, xác định rõ phạm vi, thời hạn và mức độ hạn chế. Trường hợp có thể bố trí lối tiếp cận thay thế thì phải bảo đảm lối thay thế phù hợp; danh mục lối tiếp cận biển công cộng cần được công khai để người dân biết và giám sát. Đồng thời, đề nghị làm rõ trách nhiệm phối hợp giữa địa phương ven biển và địa phương trong lưu vực sông về kiểm soát ô nhiễm từ đất liền ra biển; xác định chi phí xử lý theo khối lượng, tính chất và mức độ tác động của nguồn thải, bảo đảm chủ thể gây ô nhiễm chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật.

Thứ hai, về giao dịch quyền sử dụng khu vực biển, thu hồi và bảo vệ quyền lợi hợp pháp tại Điều 34, 35 và 36.

Hiện dự thảo có quy định chỗ yêu cầu “ý kiến thống nhất bằng văn bản”, có chỗ chỉ yêu cầu “có ý kiến”. Đề nghị phân định rõ trường hợp nào bắt buộc phải có ý kiến thống nhất; quy định cơ chế xử lý khi các cơ quan có ý kiến khác nhau, nhất là đối với khu vực nhạy cảm và dự án có yếu tố nước ngoài. Việc thay đổi cổ đông, tỷ lệ sở hữu hoặc quyền kiểm soát trong quá trình thực hiện dự án cũng cần được kiểm soát để không làm vô hiệu kết quả thẩm định ban đầu. Tại điểm c, khoản 1, Điều 38 quy định thu hồi khi hoạt động sử dụng biển gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại hoặc lợi ích quốc gia, nhưng khoản 1, Điều 39 chưa bao quát trường hợp này trong các trường hợp được bồi thường, hỗ trợ.

Đề nghị bổ sung cơ chế bồi thường, hỗ trợ phù hợp đối với người sử dụng biển ngay tình, không có vi phạm nhưng phải chấm dứt quyền sử dụng vì yêu cầu công cộng hoặc quốc phòng, an ninh; đồng thời quy định căn cứ thu hồi phải được thể hiện bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền, có phương án xử lý tài sản và bảo vệ quyền của bên nhận thế chấp.

Thứ ba, bảo vệ môi trường biển và xử lý vật chất nạo vét tại các Điều 57,  68, 69 và 70.

Tại khoản 5, Điều 57, cần thể hiện rõ trách nhiệm tài chính bắt buộc của chủ thể gây ô nhiễm theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả, không thiết kế theo hướng khoản đóng góp của chủ thể gây ô nhiễm có thể bị hiểu là tự nguyện hoặc được thay thế mặc nhiên bằng ngân sách.

Đối với khoản 2, Điều 69, quy định miễn thủ tục thẩm định đánh giá tác động môi trường đối với dự án chỉ có hoạt động nạo vét và nhận chìm ở biển cần được cân nhắc kỹ. Đề nghị không miễn theo tên loại hoạt động một cách đồng loạt; phải xem xét quy mô, khối lượng, tính chất vật chất, vị trí nhận chìm và mức độ nhạy cảm của hệ sinh thái. Nếu tích hợp thẩm định môi trường vào thủ tục cấp phép nhận chìm thì Luật phải quy định đầy đủ trình tự, thẩm quyền, nội dung thẩm định, kết quả và trách nhiệm hậu kiểm tương đương yêu cầu của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Tại Điều 68, Điều 69 và điểm d, khoản 2, Điều 70, đề nghị xác lập thứ tự ưu tiên xử lý vật chất nạo vét: phân loại, tái sử dụng hoặc tận dụng cho san lấp, gây bồi, phục hồi hệ sinh thái khi đáp ứng tiêu chuẩn; nhận chìm chỉ là phương án sau cùng khi không có phương án phù hợp hơn và bổ sung những tiêu chí chất lượng, an toàn, khu vực, phương thức nhận chìm và chế độ quan trắc, báo cáo đầy đủ.

PV (lược ghi)

Chia sẻ bài viết