Khi làm nhiệm vụ giúp bạn ở Campuchia, tôi và anh Tư Thắng ở chung một đơn vị. Chúng tôi rất thân nhau. Ngày trở về, tôi may mắn thân thể còn lành lặn. Anh Thắng về trước vì đã mất một chân! Sau khi nghỉ hưu, thỉnh thoảng tôi đến thăm anh. Lần nào cũng vậy, khi bước vào nhà, tôi không quên nhìn lên đầu tủ, nơi anh Thắng trang trọng để pho tượng một cô Áp-sa-ra đang múa mà anh coi như một kỷ niệm sâu sắc trong đời. Tôi cũng có tình cảm đặc biệt với cô vũ nữ này nên mỗi lần gặp lại cô là những chuyện cũ lại tràn về, lại thương, lại nhớ một thời khói lửa trên đất bạn.
Sau khi ta và bạn giải phóng Thủ đô Phnom Penh và các tỉnh lỵ, bọn Pôn-pốt bỏ chạy tán loạn. Chúng còn những sư đoàn, có cả xe tăng, thiết giáp và trọng pháo. Chúng có căn cứ trong rừng núi, có hậu phương ở bên kia biên giới Thái Lan, có tiếp tế ở sau lưng. Khi nào đuối sức, chúng đến những nơi đó để củng cố lực lượng rồi lại bung ra phản kích. Chúng có lợi thế là hoạt động trên đất nhà, quen thuộc từng ngõ ngách và còn khống chế được một số dân. Phải công nhận là quân Pôn-pốt đánh du kích rất khá, chịu đựng thiếu thốn, bệnh tật rất đáng nể. Nếu chủ quan, sơ hở thì rất dễ sa vào bãi mìn, ổ phục kích hay bị chúng dùng những mẹo vặt đưa ta vào bẫy. Còn ta thì chiến đấu trên chiến trường không quen thuộc, không biết địa hình, không biết ngôn ngữ, không rõ ai là bạn, ai là địch...
* * *
Hôm ấy, anh em vệ binh chưa kịp đi dò đường thì Tư Thắng đã cùng hai đồng chí trinh sát đi xuống đơn vị để họp. Đường chỉ hơn một cây số. Khu vực này đã được anh em ta kiểm soát nên yên chí là không có địch. Nhưng không ngờ... Đoàn anh Thắng vừa đi được mấy phút thì mấy loạt AK từ hướng đó vọng lại. Anh em xách súng chạy ngay đến phía đó. Mọi việc đã diễn biến xong! Hiện trường còn ngổn ngang. Anh Thắng bị thương ở chân. Một đồng chí trinh sát trúng đạn nhẹ ở vai. Về phía địch, một tên chết, một tên bị trói, đầu đỗ máu. Bên cạnh hai tên địch còn có một người đàn ông độ trên ba mươi tuổi, một người đàn bà có lẽ là vợ anh ta, và một cháu bé độ ba tuổi, đang bị ngất. Mọi việc được giải quyết nhanh chóng: cấp cứu cho em bé, băng bó cho anh Thắng, đưa ngay về bệnh xá, băng cả cho tên tù binh và đưa nó về bộ phận điều tra... Ta cũng tìm hiểu sơ bộ về gia đình bị nạn là anh Sà-rươn và chị Sa-rết: Anh là giáo viên, chị buôn bán ở Kan-đan. Hai anh chị vừa trốn khỏi một nơi giam giữ của bọn Pôn-pốt đang tìm đường về quê. Anh em ta đưa họ cho chánh quyền địa phương để điều tra. Trước khi đi, người đàn ông cầm pho tượng Áp-sa-ra tỏ ý muốn cho anh Thắng. Tôi nhận pho tượng và hứa sẽ giao lại anh ấy khi anh lành mạnh.
Qua lời khai của tên tù binh, chúng tôi tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện như sau:
Địch bị đánh bật ra khỏi khu vực Trà-péc nhưng thường xuyên cho bọn biệt kích bu bám, nghe lén điện thoại, tìm hiểu hoạt động của ta, có điều kiện thì đánh lén rồi chạy vào núi hoặc giả dân thường trà trộn trong phum. Hôm ấy, do ta lộ bí mật trên đường dây điện thoại nên địch phục kích đánh đoàn anh Tư Thắng. Nào ngờ lại đụng đầu luôn cả gia đình anh Sà-rươn. Hai tên địch sợ lộ nên uy hiếp anh chị Sà-rươn bảo ngồi im. Chúng sợ cháu bé khóc. Tên địch ở trần bịt miệng cháu lại làm cháu giãy giụa quyết liệt mà không sao thoát ra được, bị ngất đi. Nó bảo tên mặc áo đen bắn người chỉ huy, tức là anh Tư Thắng. Nó buông em bé, chụp lấy khẩu súng. Trong lúc cấp bách, chị Sa-rết rút được pho tượng Áp-sa-ra trong gói hành lý, giáng mạnh vào đầu một tên lính ở trần vừa lúc nó bóp cò. Có lẽ vì vậy mà đạn chỉ có một viên trúng vào chân anh Tư, nếu không thì anh đã bị trúng nguyên loạt đạn. Hai đồng chí trinh sát ta nổ súng ngay vào nơi địch đang trú ẩn. May mà không trúng anh chị Sà-rươn và cháu bé. Tên áo đen chết ngay. Tên ở trần bắn bậy thêm một loạt rồi bỏ chạy nhưng bị một đá của đồng chí trinh sát, nhào lăn. Chúng tôi được một bài học về cảnh giác. Gia đình anh Sà-rươn coi như thoát chết một lần nữa. Nếu hôm ấy không có gia đình anh thì chắc chắn là tổn thất của chúng ta còn nặng nề hơn!
* * *
Sau khi lành vết thương, anh Tư Thắng về địa phương! Nhận được pho tượng Áp-sa-ra, anh mừng lắm. Anh nâng niu và phát hiện ở chân tượng một vết thẹo. Có lẽ do trận chiến đấu một còn, một mất hôm ấy mà ra. Anh cười, bảo:
- Vậy là “chị Hai Áp-sa-ra” này cũng bị thương ở chân như tôi! Xin cám ơn chị. Nếu không có chị thì “em” đã “đi” rồi!
Anh Thắng thiết kế cho cô Áp-sa-ra một “sàn múa” trên đầu tủ, nhờ thợ “trị” vết thương và “tút” lại cái nhan sắc cho cô. Nhờ vậy, và có lẽ nhờ hằng ngày cô được cái ti-vi bên cạnh thông báo những tin tức thắng lợi của Campuchia.
* * *
Mới đây, anh Thắng mời một số bạn bè đến nhà anh dự đám giỗ. Khách đến đông đủ, phần đông là cựu chiến binh. Khi được hỏi giỗ ai, anh Thắng cười hà hà theo cái kiểu nghịch ngợm của anh, rồi bảo:
- Giỗ tôi! Tôi giỗ tôi đó! Lẽ ra ngày này hơn ba mươi năm về trước tôi đã chết ở Campuchia rồi! May nhờ có chị Sa-rết và cô Áp-sa-ra kia mà tôi vẫn còn mạnh giỏi. Vậy là tôi tổ chức một bữa nhậu sơ sơ để kỷ niệm một ngày đáng nhớ của tôi chớ!
Anh em vào tiệc. Tôi được anh Thắng “ủy nhiệm” kể lại cho mọi người nghe về lịch sử cái chân cụt của anh. Vừa kể, tôi vừa nhìn cô Áp-sa-ra. Tôi thấy như cô mỉm cười khi nghe đến chỗ cô đập đầu tên lính Pôn-pốt. Anh Tư Thắng nói như tóm tắt những suy nghĩ của mình về một thời trận mạc:
- Đánh nhau với bọn Pôn-pốt, tuy chúng không có B52 và các loại vũ khí tối tân như Mỹ, nhưng ta rất dễ bị thương vong do mìn và các loại súng nhỏ. Nếu ta không giúp bạn trừ bọn diệt chủng Pôn-pốt thì biên giới không có ngày nào bình yên để xây dựng. Còn bao nhiêu vụ thảm sát nữa sẽ xảy ra? Ta càng thấm thía lời dạy của Bác Hồ: “Giúp bạn là tự giúp mình!”. Tình hữu nghị càng thêm bền chặt vì nó được xây dựng bằng xương máu!
Rồi anh Tư Thắng nhìn cô Áp-sa-ra, nói như tâm sự:
- Tôi bị mất một chân. Việc hy sinh là tất yếu thôi! Người xưa có câu thơ: “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” (xưa nay chinh chiến mấy ai về)... Mình về được đó là hạnh phúc hơn bao đồng đội ra đi vĩnh viễn. Tôi sống được là nhờ sự dũng cảm của chị Sa-rết. Mỗi lần tôi nhìn cô Áp-sa-ra là tôi nhớ đến cái ơn của chị.
Nghe anh Tư Thắng nói, chúng tôi càng thấm thía. Chúng tôi lại nghĩ đến một nguyên lý sáng ngời của Đảng ta: “Tình yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản!”. Nhân dân ta muốn có hòa bình để xây dựng nhưng không bao giờ tiếc máu xương khi phải cầm súng chống những kẻ thù xâm lược. Xương máu là đáng quý nhưng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”!