Theo bước chân người Việt khai phá vùng đất phương Nam từ khoảng thế kỷ XVII, chiếc lu cùng với các tri thức nghề gốm đã cùng cư dân đến vùng đất mới. Ở mỗi địa phương, theo hình dáng và kích thước, vật dụng này được gọi là lu, kiệu, khạp, chum, vại, hũ... Song đều có chung công năng là chứa đựng, bảo quản các loại lương thực, thực phẩm, nước sinh hoạt. Trong điều kiện tự nhiên đặc thù của Nam Bộ, chiếc lu nhanh chóng trở thành vật dụng không thể thiếu trong mỗi gia đình.

Hàng kiệu bên hông nhà. Ảnh: DUY KHÔI
Trong các vật dụng truyền thống của cư dân Nam Bộ, chiếc lu gắn bó mật thiết với đời sống thường nhật và phản ánh rõ nét quá trình con người thích nghi với điều kiện tự nhiên, lưu giữ những ký ức về buổi đầu khẩn hoang, thể hiện tri thức dân gian trong ứng xử với môi trường và phản ánh nét đẹp nghĩa tình của con người nơi đây.
Đặc điểm địa hình Nam Bộ với hệ thống sông ngòi chằng chịt, nhiều vùng đất ngọt xen lẫn đất phèn, đất mặn và đất lợ đã hình thành nên phương thức sinh hoạt gắn liền với sông nước. Tuy nhiên, nước sông không phải lúc nào cũng có thể sử dụng trực tiếp. Nước chịu ảnh hưởng của phù sa, thủy triều và đặc biệt là hiện tượng xâm nhập mặn vào mùa khô khiến nguồn nước ngọt luôn là mối quan tâm lớn của cư dân. Chính điều kiện tự nhiên ấy đã hình thành tập quán hứng nước mưa để sử dụng quanh năm, trong đó lu, kiệu... trở thành phương tiện lưu trữ nước hiệu quả nhất.
Thời kỳ khẩn hoang, việc tìm được nguồn nước ngọt, có thể dùng trực tiếp trong ăn uống không đơn giản. Vì vậy, mỗi mùa mưa đến không chỉ mang ý nghĩa làm tươi tốt ruộng đồng mà còn là mùa tích trữ nguồn nước quý giá cho cả năm. Người dân chuẩn bị các loại lu, kiệu... để hứng nước mưa. Những cơn mưa đầu mùa thường không được sử dụng vì nước còn lẫn bụi bẩn từ mái nhà sau nhiều tháng nắng hạn. Chỉ khi các trận mưa lớn xuất hiện thường xuyên, nước mới được hứng vào lu, kiệu cỡ lớn để dự trữ.
Ở nhiều vùng nông thôn Nam Bộ trước đây, dưới mái hiên của mỗi ngôi nhà thường xếp thành từng dãy lu lớn nhỏ. Gia đình khá giả có nhiều lu, kiệu cỡ lớn có thể sử dụng nước mưa gần như quanh năm. Những gia đình khó khăn hơn thì nước mưa dự trữ chỉ đủ trong vài tháng. Khi hết nước mưa, họ lấy nước sông về lóng phèn trong lu, chờ cặn lắng xuống đáy rồi mới đem sử dụng. Chính vì vậy, chiếc lu còn là công cụ giúp xử lý và bảo quản nguồn nước phục vụ sinh hoạt.
Cho đến tận những năm cuối thế kỷ XX, chiếc lu vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống hằng ngày của cư dân Nam Bộ. Hầu như mỗi gia đình đều có nhiều lu để chứa nước mưa phục vụ việc ăn uống, nấu nướng và các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu. Trong điều kiện mùa khô kéo dài hoặc khi nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, những chiếc lu đầy nước sạch trở thành tài sản vô cùng quý giá. Có thể nói, chiếc lu đã góp phần giúp cư dân thích ứng với điều kiện tự nhiên và duy trì cuộc sống ổn định trên vùng đất mới.
Bên cạnh chức năng chứa nước, với dung tích lớn, độ bền cao và khả năng bảo quản tốt, lu được sử dụng để cất giữ lúa gạo, đựng các loại nông sản sau thu hoạch, bảo quản thực phẩm khô và lưu giữ nông cụ. Trong đời sống ẩm thực, lu còn là vật dụng quen thuộc để ủ các loại mắm truyền thống như mắm cá linh, mắm sặc, mắm cá lóc cùng nhiều sản phẩm lên men khác. Chính sự đa dạng trong công năng sử dụng khiến chiếc lu trở thành vật dụng hiện diện ở hầu khắp các không gian trong ngôi nhà Nam Bộ, từ gian bếp, sân sau cho đến mái hiên.
Một hình ảnh quen thuộc của làng quê Nam Bộ xưa là dưới hàng ba của mỗi ngôi nhà luôn có một hoặc vài chiếc lu nước mưa đặt sẵn cùng một chiếc ca để múc nước. Đây là lu nước uống nên luôn được giữ gìn sạch sẽ, không chỉ phục vụ các thành viên trong gia đình mà còn dành cho bất cứ ai đi ngang qua. Người đi đường, người làm đồng, người bán hàng rong hay những người thợ mài dao, vá nồi... giữa đường mưu sinh nếu khát nước đều có thể ghé vào uống một ca nước mưa mát lành. Nếu gặp chủ nhà, họ chỉ cần cất lời xin phép; còn nếu chủ vắng nhà thì vẫn có thể tự nhiên múc nước uống mà không ai trách cứ. Trong nhiều trường hợp, chủ nhà còn mời khách nghỉ chân trên chiếc chõng tre dưới mái hiên, đợi bớt mệt rồi hãy tiếp tục lên đường. Nếu đúng vào giờ cơm hoặc lúc đang nấu chè, nấu chuối hầm thì khách còn được mời như một sự sẻ chia rất đỗi chân tình.
Chính từ những điều tưởng chừng rất giản dị ấy, chiếc lu đã vượt ra khỏi giá trị của một vật dụng sinh hoạt để trở thành biểu tượng của tình làng nghĩa xóm và lòng hiếu khách của cư dân Nam Bộ. Trong bối cảnh khai phá vùng đất mới với biết bao khó khăn, tinh thần tương trợ giữa những người cùng cảnh ngộ là yếu tố quan trọng giúp cộng đồng tồn tại và phát triển. Lu nước dưới mái hiên vì thế không chỉ giúp giải cơn khát mà còn gửi gắm thông điệp về sự sẻ chia, lòng nhân ái và sự cởi mở của con người phương Nam.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của hệ thống cấp nước sạch, các thiết bị hiện đại phục vụ sinh hoạt, vai trò của chiếc lu đã giảm đi đáng kể. Trên các tuyến đường nông thôn cũng hiếm khi còn thấy khách bộ hành ghé vào xin nước uống bởi hàng quán đã xuất hiện ngày càng nhiều. Tuy nhiên, ở không ít vùng quê Nam Bộ, những chiếc lu cũ vẫn còn được giữ lại như một phần của nếp nhà truyền thống, trở thành những vật chứng lặng lẽ của một thời kỳ khai phá đầy gian khó và của một lối sống nghĩa tình đã ăn sâu vào tâm thức người dân phương Nam. Hiện nay, hình ảnh những bình trà đá miễn phí đặt ven đường ở nhiều nơi vào những ngày nắng nóng, phần nào gợi nhớ đến truyền thống đặt lu nước dưới mái hiên nhà ngày trước. Dù hình thức đã thay đổi theo điều kiện xã hội hiện đại, tinh thần sẻ chia và giúp đỡ người xa lạ vẫn được tiếp nối bằng những cách thức phù hợp với cuộc sống hôm nay.
Có thể khẳng định, chiếc lu là một vật dụng bình dị nhưng chứa đựng nhiều lớp giá trị văn hóa của cư dân Nam Bộ. Từ việc lưu trữ nguồn nước, bảo quản lương thực, phục vụ sản xuất đến việc nuôi dưỡng truyền thống tương thân tương ái, chiếc lu đã phản ánh quá trình con người thích nghi với điều kiện tự nhiên, đồng thời thể hiện những phẩm chất đặc trưng của người dân phương Nam. Ngày nay, ở nhiều công trình du lịch, văn hóa, nhà hàng... chiếc lu vẫn được sử dụng làm vật trang trí, là một biểu tượng văn hóa giàu ý nghĩa, góp phần khắc họa bản sắc của cư dân Nam Bộ qua nhiều thế hệ.
Trần Kiều Quang