26/05/2026 - 16:18

Tương lai năng lượng sạch nhìn từ cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz 

Tình hình phong tỏa tại eo biển Hormuz kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng đã cho thấy thực tế hết sức rõ ràng, đó là thế giới vẫn phụ thuộc rất nhiều vào nhiên liệu hóa thạch, bất chấp nỗ lực đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi sang nguồn năng lượng tái tạo trong những năm gần đây.

Ngay cả khi đạt được thỏa thuận về eo biển Hormuz, việc di chuyển 1.500 tàu bị mắc kẹt ở Vịnh Ba Tư gần 3 tháng nay cũng sẽ không dễ dàng. Ảnh: Yahoo News

Khủng hoảng tại eo biển Hormuz đang chuyển sang giai đoạn bị coi là “rất nguy hiểm” khi lượng dầu tồn kho toàn cầu suy giảm nhanh chóng, với mức giảm trung bình tháng 5 đạt kỷ lục 8,7 triệu thùng/ngày. Tính đến cuối tháng này, Goldman Sachs dự đoán tổng dự trữ dầu toàn cầu có thể rơi xuống dưới mức đủ dùng cho 98 ngày tiêu thụ, bao gồm lượng dự trữ thương mại và dự trữ chiến lược quốc gia.

Mức dự trữ trên đang tiến sát ngưỡng 90 ngày nhập khẩu và tồn kho mà Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) yêu cầu đối với các nước thành viên nhằm đảm bảo an ninh năng lượng. Đến tháng 6, các chuyên gia cảnh báo thị trường dầu mỏ có thể rơi vào trạng thái cực kỳ nhạy cảm nếu tình trạng hạn chế vận tải qua eo biển Hormuz tiếp tục trong khi lượng tồn kho ở các nước giảm với tốc độ hiện nay.

Dầu khí không chỉ là nhiên liệu, đây còn là nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nhựa, hóa dầu, phân bón, dược phẩm, dệt may tổng hợp và hóa chất công nghiệp - những yếu tố then chốt trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Do đó, áp lực từ dòng vận chuyển dầu bằng tàu biển tiếp tục bị gián đoạn không chỉ ảnh hưởng hệ thống giao thông và năng lượng mà nó còn lan rộng đến hàng tiêu dùng và chuỗi cung ứng sản xuất.

Thực tế này cũng nói lên tại sao loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch trở thành nhiệm vụ phức tạp hơn nhiều so với việc kêu gọi áp dụng các chính sách xanh như xe điện (EV) và năng lượng Mặt trời. Mặc dù hydro xanh và nhiên liệu sinh học được sản xuất từ sinh khối tái tạo (thực vật, chất thải hữu cơ, mỡ động vật) đang nổi lên như trụ cột trong quá trình khử carbon, nhưng các giải pháp đó vẫn phải đối mặt thách thức liên quan chi phí, sự sẵn sàng của cơ sở hạ tầng và khả năng mở rộng quy mô.

Chiến lược song song

Xung đột địa chính trị làm gián đoạn thị trường dầu khí và đẩy giá năng lượng leo thang, qua đó phơi bày sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và tính dễ bị tổn thương của nền kinh tế. Tình hình này cùng với bất ổn rộng hơn trong chuỗi cung ứng đang tạo ra cái gọi là “phụ phí” nhiên liệu hóa thạch.

Mức giá nhiên liệu hóa thạch cao hơn hiện nay do bất ổn địa chính trị có thể sẽ giảm bớt khi thị trường ổn định. Nhưng đến lúc đó, nhiều quốc gia có thể xem xét duy trì sản lượng dầu khí đủ để đảm bảo an ninh năng lượng và ổn định công nghiệp, song song với mở rộng công nghệ carbon thấp cần thiết cho tương lai năng lượng bền vững và đa dạng.

Chiến lược đó phản ánh sự thay đổi rộng hơn trong cách nhìn nhận về năng lượng sạch. Trong đó, nỗ lực thúc đẩy đầu tư vào năng lượng tái tạo, điện khí hóa, nhiên liệu sinh học và hệ thống năng lượng phân tán vừa là giải pháp cho vấn đề khí hậu, vừa là cơ chế phòng ngừa rủi ro trước sự bất ổn địa chính trị và biến động giá nhiên liệu.

Nhìn chung, quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu không chỉ được định hình bởi ý thức cùng tham vọng về khí hậu mà còn bởi khả năng chi trả, năng lực cạnh tranh công nghiệp và các mối quan ngại về an ninh quốc gia. Xét ở cấp độ khu vực, nhiệm vụ cân bằng này có phần phức tạp đối với các nước đang phát triển vốn có nhu cầu năng lượng tăng mạnh nhằm đáp ứng tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa cao.

MAI QUYÊN (Theo CNA News)

Chia sẻ bài viết