Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 8-8, Quốc hội thảo luận ở hội trường. Bà Lê Thị Thanh Lam, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, tham gia đóng góp một số ý quan trọng về dự thảo Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Đại biểu Lê Thị Thanh Lam thống nhất với sự cần thiết ban hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt nhằm thể chế hóa đầy đủ các cam kết quốc tế của Việt Nam cũng như hoàn thiện cơ sở pháp lý về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt theo hướng quản lý rủi ro, tăng cường phối hợp liên ngành và bảo đảm không làm phát sinh thủ tục hành chính độc lập. Tuy nhiên, để dự thảo có tính khả thi và hạn chế tranh chấp trong quá trình áp dụng, đại biểu đóng góp một số ý kiến cụ thể như sau:
Thứ nhất, về giải thích từ ngữ, đề nghị bổ sung cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của “bên thứ ba ngay tình”. Tại khoản 12 Điều 3, dự thảo đã bổ sung khái niệm “bên thứ ba ngay tình”. Đây là một điểm mới, tiến bộ và rất cần thiết, tuy nhiên, chưa quy định rõ cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể này. Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp, luật sư thường gặp những trường hợp tài sản của bên thứ ba bị ảnh hưởng do giao dịch với đối tượng vi phạm nhưng họ hoàn toàn không biết và cũng không thể biết về hành vi vi phạm. Nếu Luật chưa quy định rõ nguyên tắc xử lý sẽ rất dễ phát sinh khiếu nại, khiếu kiện hành chính và tranh chấp bồi thường thiệt hại.
Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định về nguyên tắc chung như sau: “Việc áp dụng các biện pháp quản lý, kiểm soát theo Luật này không được làm ảnh hưởng không cần thiết đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba ngay tình; trường hợp gây thiệt hại thì việc bồi thường được thực hiện theo quy định của pháp luật”. Quy định này sẽ bảo đảm tính thống nhất với Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và góp phần nâng cao tính khả thi của Luật.

Đại biểu Lê Thị Thanh Lam phát biểu tại Hội trường, góp góp ý về dự thảo Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt
Thứ hai, về nguyên tắc phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Tại Điều 4 đã thể hiện nguyên tắc không đặt thêm thủ tục quản lý độc lập, trùng lặp, tuy nhiên, phạm vi kiểm soát còn giao thoa với pháp luật về hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất, xuất nhập khẩu, thương mại và hàng hóa lưỡng dụng. Đề nghị quy định trường hợp hàng hóa, hoạt động đã được quản lý theo pháp luật chuyên ngành thì cơ quan thực hiện nhiệm vụ phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt được sử dụng, chia sẻ kết quả cấp phép, khai báo, kiểm tra và dữ liệu chuyên ngành và chỉ yêu cầu bổ sung thông tin trực tiếp phục vụ đánh giá rủi ro, không yêu cầu doanh nghiệp thực hiện lại thủ tục.
Về danh mục kiểm soát. Điều 12 quy định Danh mục kiểm soát được xây dựng trên cơ sở tích hợp danh mục hàng hóa lưỡng dụng của các Bộ, ngành nhưng chưa quy định cụ thể phương thức nhận diện hàng hóa. Do đó, đề nghị Danh mục thể hiện tên hàng, mô tả kỹ thuật, ngưỡng hàm lượng hoặc công suất và mã HS(1) tham chiếu; phân biệt hàng hóa sử dụng phổ biến trong sản xuất dân dụng với đối tượng có nguy cơ cao; lấy ý kiến Bộ Công Thương, cơ quan hải quan và cộng đồng doanh nghiệp trước khi ban hành, cập nhật, đồng thời quy định thời gian chuyển tiếp phù hợp khi Danh mục thay đổi.
Thứ ba, về biện pháp quản lý, kiểm soát đối tượng ngoài danh mục kiểm soát. Điều 15 cho phép áp dụng biện pháp kiểm soát đối với hàng hóa, công nghệ và dịch vụ ngoài Danh mục; quy định này có thể ảnh hưởng lớn đến sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu nếu tiêu chí rủi ro không được hướng dẫn thống nhất. Đề nghị quy định rõ cơ quan có thẩm quyền phát hành cảnh báo, yêu cầu tạm dừng; hình thức, thời hạn, phạm vi cảnh báo; thời hạn trả lời doanh nghiệp; cơ chế chấm dứt biện pháp khi không còn căn cứ và trách nhiệm xử lý, bồi thường nếu áp dụng sai gây thiệt hại. Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh chỉ xác minh, phối hợp kiểm tra trong phạm vi chức năng, không tự kết luận thông tin quốc phòng, an ninh hoặc cảnh báo quốc tế.
Điều 14 và Điều 15 yêu cầu xác minh người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng, chủ sở hữu hưởng lợi, tuyến vận chuyển và chuỗi cung ứng; nghĩa vụ này có thể vượt quá khả năng của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đề nghị Ban soạn thảo quy định nghĩa vụ theo mức độ rủi ro, quy mô và tính chất giao dịch; tổ chức, cá nhân không phải chịu trách nhiệm đối với thông tin giả mạo mà họ không biết và không thể biết sau khi đã thực hiện đầy đủ biện pháp thẩm tra hợp lý; đồng thời ban hành mẫu chứng nhận người sử dụng cuối cùng áp dụng thống nhất.
Thứ tư, về quản lý nhà nước về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Điều 31 giao Chính phủ quy định việc phân công, phân cấp nhưng chưa thể hiện rõ nhiệm vụ của chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Đề nghị xác định nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp tỉnh trong tổ chức thực hiện, tiếp nhận cảnh báo và điều phối xử lý tại địa phương; cơ quan chuyên môn kiểm tra, xác minh, cung cấp dữ liệu trong phạm vi quản lý ngành; Sở Công Thương làm đầu mối đối với hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, hoạt động thương mại và hàng hóa lưỡng dụng thuộc phạm vi được phân cấp; cơ quan đầu mối quốc gia cung cấp tiêu chí, thông tin cảnh báo và kết luận về nguy cơ phổ biến. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung, tránh yêu cầu doanh nghiệp báo cáo cùng một nội dung cho nhiều cơ quan; đánh giá nguồn lực, kinh phí và tổ chức đào tạo chuyên môn trước khi giao thêm nhiệm vụ cho địa phương.
Đề nghị quy định rõ thời hạn áp dụng các biện pháp hạn chế quyền. Qua nghiên cứu dự thảo, nhận thấy nhiều biện pháp quản lý có khả năng tác động trực tiếp đến quyền sở hữu, quyền kinh doanh, quyền giao kết hợp đồng của tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, dự thảo chưa quy định cụ thể: Thời hạn áp dụng; điều kiện gia hạn; thời điểm bắt buộc phải rà soát; căn cứ chấm dứt biện pháp quản lý. Đây là khoảng trống pháp lý khá quan trọng. Đề nghị bổ sung quy định theo hướng: “Biện pháp quản lý, kiểm soát chỉ được áp dụng trong thời hạn cần thiết, phải được rà soát định kỳ và chấm dứt ngay khi không còn căn cứ áp dụng”. Quy định này không làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước mà còn bảo đảm tốt hơn nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân phải thực sự cần thiết, hợp lý và tương xứng, đồng thời hạn chế phát sinh tranh chấp hành chính trong quá trình tổ chức thực hiện.
Đề nghị cụ thể hóa cơ chế quản lý theo rủi ro. Một trong những điểm quan trọng của dự thảo Luật là quản lý trên cơ sở đánh giá rủi ro; đồng thời báo cáo đánh giá thủ tục hành chính cũng xác định đây là định hướng xuyên suốt của dự án Luật. Tuy nhiên, dự thảo hiện chưa quy định hoặc giao Chính phủ quy định rõ: tiêu chí đánh giá rủi ro; phương pháp đánh giá; mức độ rủi ro; cơ chế cập nhật và công khai kết quả đánh giá. Đây là nội dung cần được quy định rõ hơn để tránh việc áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, việc công khai nguyên tắc đánh giá rủi ro còn giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng hệ thống tuân thủ, giảm đáng kể chi phí tuân thủ pháp luật.
1. Mã HS tham chiếu là mã số phân loại hàng hóa được dùng làm căn cứ tạm thời, đối chiếu hoặc so sánh khi mô tả mặt hàng chưa có mã chính thức rõ ràng hoặc khi tra cứu các chính sách quản lý cũ.
PV