08/08/2026 - 19:03

Ông Đào Chí Nghĩa, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 8-8, Quốc hội thảo luận ở hội trường. Ông Đào Chí Nghĩa, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, tham gia đóng góp một số ý quan trọng về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).

Đại biểu Đào Chí Nghĩa nhất trí cao với sự cần thiết tiếp tục sửa đổi Luật Dầu khí và tán thành việc thông qua dự án Luật tại kỳ họp này. Từ góc nhìn của địa phương, TP Cần Thơ - địa bàn có tuyến ống dẫn khí từ vùng biển Tây Nam về bờ và trung tâm điện lực trên đất liền, vừa là địa phương có biển, đại biểu quan tâm 2 vấn đề ở dự thảo này:

Một là, tính thông suốt về mặt pháp lý của các dự án dầu khí đang triển khai trên địa bàn có liên quan đến thời điểm chuyển tiếp, chuyển giao giữa luật hiện hành và dự thảo.

Hai là, tính chủ động của các địa phương có biển khi mở rộng không gian phát triển kinh tế biển, không gian phát triển mới trên biển mà dự thảo luật đang đề cập.

 Đại biểu Đào Chí Nghĩa tham gia đóng góp ý kiến về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).

Qua nghiên cứu dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi), đại biểu đánh giá cao  quy định chuyển tiếp đã được thiết kế theo đúng nguyên tắc bảo đảm tính liên tục của dự án và sự ổn định của môi trường đầu tư ở Điều 62.

Tại khoản 1, Điều 62 khẳng định hợp đồng dầu khí đã ký và giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đã cấp thì tiếp tục được thực hiện. Khoản 2 quy định đề án, báo cáo, kế hoạch, chương trình đã phê duyệt thì tiếp tục thực hiện, không phải bổ sung nội dung theo Luật mới. Khoản 3 quy định hồ sơ đã trình thì không phải trình lại.

Hiện nay, TP Cần Thơ đang có chuỗi dự án khí - điện gồm nhiều hạng mục, triển khai qua nhiều năm, 3 khoản ở Điều 62 là sự bảo đảm để không hạng mục nào phải quay lại vạch xuất phát chỉ vì pháp luật thay đổi. Nhà đầu tư nhìn vào đó để yên tâm về những gì đã cam kết; địa phương dựa vào đó để tiếp tục tập trung hoàn thành tiến độ mặt bằng, hạ tầng kết nối đã bố trí theo kế hoạch.

Bên cạnh đó tại Chương 8 và Chương 9, dự thảo quy định hoạt động thu giữ, lưu trữ các-bon và công trình năng lượng ngoài khơi trong phạm vi gắn với hoạt động dầu khí, trên nguyên tắc tận dụng công trình, hạ tầng và dữ liệu mà ngành dầu khí đã đầu tư; phần vượt ra ngoài phạm vi đó thì thực hiện theo pháp luật chuyên ngành. Cách xác định rất phù hợp vừa không lấn sang phạm vi của pháp luật về điện lực, môi trường, biển và hải đảo. Với các địa phương có biển, đây là những chương đáng chờ đợi nhất của dự thảo, vì nó gắn tương lai phát triển kinh tế biển của chính địa phương mình.

Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật dầu khí sửa đổi, đại biểu xin góp ý 2 vấn đề cụ thể sau:

Thứ nhất, đề nghị cơ quan soan thảo tiếp tuc nghiên cứu, rà soát Điều 62 để cập nhật các trường hợp chuyển tiếp chưa được quy định.

Trường hợp thứ nhất là hợp đồng dầu khí đang đàm phán nhưng đến ngày Luật có hiệu lực chưa ký và chưa trình cơ quan có thẩm quyền. Khoản 3 Điều 62 mới xử lý trường hợp hồ sơ "đã trình"; còn hợp đồng đang đàm phán thì áp dụng theo điều kiện nào - điều kiện đã mời thầu, đã đàm phán theo luật cũ, hay theo điều kiện của Luật mới - hiện không rõ quy định về trường hợp này. Với những cuộc đàm phán dầu khí kéo dài nhiều năm, khoảng trống này có thể buộc các bên phải đàm phán lại từ đầu.

Trường hợp thứ 2 là số dư Quỹ bảo đảm nghĩa vụ thu dọn công trình dầu khí đã trích lập theo quy định trước ngày Luật có hiệu lực. Đề nghị bổ sung nguyên tắc số dư này được tiếp tục quản lý, sử dụng theo Luật này, để không phát sinh tranh luận về chế độ pháp lý về sau.

Thứ hai, tại Chương VIII và Chương IX. Đại biểu tán thành việc Luật Dầu khí chỉ quy định CCS và năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí. Tuy nhiên vấn đề CCS độc lập và điện gió ngoài khơi quy mô thương mại vẫn chưa có khung pháp lý đồng bộ. Đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu các quy định liên quan đến CCS độc lập và điện gió ngoài khơi thương mại; đề nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị định quy định chi tiết Chương VIII, Chương IX để đồng bộ các quy định khi Luật có hiệu lực thi hành. Đây là 2 cơ sở quan trọng để các địa phương có biển chủ động bổ sung vào quy hoach phát triển không gian kinh tế biển, chuẩn bị hạ tầng và đào tạo nhân lực để đón các dự án mới thay vì bị động chờ có dự án thì mới bắt đầu triển khai.

PV

Chia sẻ bài viết