01/09/2026 - 19:17

Từ "Lời thề độc lập" đến tư duy tự chủ chiến lược - Khơi dậy khát vọng phát triển Cần Thơ 

Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của dân tộc là khát vọng của dân tộc ta. Để đạt được giá trị thiêng liêng đó, ông cha ta đã đánh đổi bằng biết bao xương máu trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, nhận thức và tư duy lý luận về độc lập, tự chủ tiếp tục có những bước phát triển mới, được thể hiện rõ nét trong tư duy tự chủ chiến lược.

“Lời thề độc lập” - sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, trịnh trọng tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam. Tuyên ngôn độc lập khép lại bằng một lời thề: "Toàn thể dân tộc, quyết đem tất cả tinh thần, lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc. Ảnh tư liệu. Nguồn: Báo Quân đội nhân dân 

Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, dân tộc ta đã phải đối mặt với những thử thách sống còn để bảo vệ nền độc lập non trẻ. Với ý chí “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, dân tộc ta bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến vĩ đại ấy là minh chứng hùng hồn cho “lời thề độc lập” của dân tộc vang lên giữa Ba Đình lịch sử mùa thu năm 1945, đồng thời khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tinh thần ấy tiếp tục được khẳng định trong những năm tháng bảo vệ Tổ quốc sau ngày đất nước thống nhất, qua những trang sử kiên cường trong các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Giá trị lớn lao của “lời thề độc lập” không chỉ ở sức mạnh hiệu triệu khi đất nước đứng trước họa xâm lăng, mà còn được tiếp nối trong hòa bình bằng ý chí dựng xây, đổi mới và phát triển đất nước. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã vươn lên trở thành một điển hình thành công về đổi mới và phát triển, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế đã được nâng lên một tầm cao mới.

Sâu xa hơn, “lời thề độc lập” năm 1945 là sự kết tinh của một ý thức đã được hình thành từ buổi đầu dựng nước và hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử, được thể hiện rõ trong các tuyên bố về chủ quyền quốc gia, từ lời khẳng định “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, tương truyền của Lý Thường Kiệt, tư tưởng về cương vực, văn hiến và chủ quyền trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, lời răn của Lê Thánh Tông không để mất “một thước núi, một tấc sông”, đến khí phách Quang Trung “đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”… Tất cả đã thấm sâu vào tâm thức người Việt và kết tình thành bản lĩnh của dân tộc. Khi đất nước bước vào một thời đại phát triển mới, những giá trị ấy phải tiếp tục được phát huy thành ý chí, bản lĩnh và sức mạnh để làm chủ con đường đi tới tương lai.

Tự chủ chiến lược - bước phát triển mới trong tư duy độc lập, tự chủ

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, Việt Nam đứng trước một thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó lường. Toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, cạnh tranh chiến lược gay gắt, kinh tế thế giới có xu hướng phân mảnh, chuỗi cung ứng có thể đứt gãy, những biến động về công nghệ và các thách thức an ninh mới ngày càng tác động trực tiếp đến mỗi quốc gia. Hội nhập càng sâu, cơ hội phát triển càng lớn nhưng những tác động, ràng buộc và nguy cơ lệ thuộc từ bên ngoài cũng càng gia tăng. Nếu nội lực không đủ mạnh, sức chống chịu và khả năng tự điều chỉnh không đủ lớn, một quốc gia rất dễ rơi vào thế bị động trước những biến động của thời cuộc. Bởi vậy, giữ vững độc lập, tự chủ trong điều kiện mới phải gắn với khả năng chủ động nắm bắt thời cơ, ứng phó thách thức và tạo lập không gian phát triển của chính mình.

Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng xác định “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc” trong mục tiêu phát triển đất nước. Việc Đại hội XIV đặt “tự chủ chiến lược” trong mục tiêu phát triển đất nước thể hiện bước phát triển mới về tư duy lý luận và tầm nhìn chiến lược của Đảng đối với độc lập, tự chủ và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Bước phát triển ấy được hình thành trên cơ sở kế thừa tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường đã được hun đúc trong lịch sử dân tộc và nhất quán trong đường lối cách mạng của Đảng; đồng thời được bổ sung, nâng cao phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và xu thế của thời đại.

Điểm cốt lõi của tự chủ chiến lược là năng lực chủ động hoạch định đường lối, lựa chọn hướng đi và điều chỉnh chính sách phù hợp trước những biến động của thực tiễn, trên cơ sở đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu. Nếu độc lập là không bị lệ thuộc từ bên ngoài, tự chủ là khả năng tự quyết định những vấn đề của mình, thì tự chủ chiến lược ở tầm cao hơn, đó là khả năng chủ động tạo lập không gian phát triển, lựa chọn con đường đi và kiến tạo tương lai, không để đất nước rơi vào thế bị động trước những biến động bên ngoài. Tự chủ chiến lược không đồng nghĩa với khép kín hay tách rời thế giới, mà là chủ động hội nhập, đa dạng hóa và cân bằng các quan hệ, kết hợp chặt chẽ giữa độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường với tranh thủ tối đa các nguồn lực và thành tựu của thế giới.

Tự chủ chiến lược trước hết phải được chuyển hóa thành năng lực thực tế trên các lĩnh vực. Về chính trị, đó là sự độc lập trong tư duy, bản lĩnh trong lựa chọn và nhất quán trong hành động vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Về kinh tế, đó là xây dựng nền kinh tế có sức chống chịu, nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động về những lĩnh vực, sản phẩm và chuỗi giá trị có ý nghĩa chiến lược. Về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đó là từng bước làm chủ tri thức, công nghệ lõi, hạ tầng và dữ liệu, tạo ra những năng lực mới cho phát triển. Về văn hóa, đó là phát huy sức mạnh nội sinh, bồi đắp bản lĩnh, khát vọng và hệ giá trị của con người Việt Nam. Về quốc phòng, an ninh, đó là chủ động nhận diện, phòng ngừa và ứng phó với các nguy cơ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Như vậy, tự chủ chiến lược không chỉ là một phương châm ứng xử trước những biến động của thế giới, mà còn là một năng lực phát triển quốc gia. Từ “Lời thề độc lập” đến tư duy tự chủ chiến lược, xuyên suốt vẫn là ý chí làm chủ vận mệnh dân tộc. Nếu trước đây, ý chí ấy được thể hiện bằng quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do, thì trong kỷ nguyên mới, phải được chuyển hóa thành thực lực, năng lực tự quyết và khả năng chủ động kiến tạo tương lai đất nước.

Cần Thơ vận dụng tư duy tự chủ chiến lược, kiến tạo động lực phát triển mới

Cần Thơ đang bước vào một chặng đường phát triển mới với không gian, vị thế và những điều kiện phát triển mới sau thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định Cần Thơ hội tụ các yếu tố “thiên thời - địa lợi - nhân hòa” để phát triển nhanh, bền vững, hiện đại. Vấn đề đặt ra không chỉ là tận dụng những lợi thế mới, mà quan trọng hơn là chuyển hóa lợi thế thành năng lực tự chủ và động lực phát triển. Đây chính là cách vận dụng tư duy tự chủ chiến lược vào điều kiện cụ thể của thành phố.

Một góc thành phố đô thị sinh thái sông nước Cần Thơ. Ảnh: ANH KHOA

Trước hết, tự chủ chiến lược đòi hỏi Cần Thơ chủ động tổ chức lại không gian phát triển. Sau sắp xếp, việc tích hợp quy hoạch của ba địa phương không đơn thuần là yêu cầu về quản lý hành chính, mà mở ra cơ hội tổ chức lại không gian kinh tế, đô thị và các chuỗi liên kết trên quy mô rộng hơn. Từ tư duy phát triển theo địa giới hành chính, thành phố cần chuyển mạnh sang tư duy phát triển theo không gian, hành lang kinh tế và chuỗi giá trị, tăng cường kết nối đất liền - sông - biển, đặt Cần Thơ trong không gian phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long và Tiểu vùng Mekong. Việc Đại hội Đảng bộ thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2025-2030 từ 10-10,5%/năm trở lên càng cho thấy yêu cầu phải biến không gian mới thành năng lực phát triển mới, chứ không chỉ là sự cộng gộp về địa giới.

Từ lợi thế phải tạo ra năng lực cạnh tranh cũng là một yêu cầu cốt lõi của tự chủ chiến lược. Cần Thơ có vị trí trung tâm vùng, nhưng vị trí địa lý tự thân chưa tạo nên sức mạnh nếu chưa được chuyển hóa thành năng lực kết nối và tổ chức các chuỗi giá trị. Vì vậy, thành phố đang định hướng phát huy hệ thống sông Hậu, sông Cần Thơ và các tuyến giao thông thủy để phát triển vận tải và logistics; đồng thời hoàn thiện, mở rộng Cảng Cái Cui, kết nối với Cảng Trần Đề, Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ và hình thành các trung tâm logistics gắn với cảng biển, cảng sông, hàng không. Đây là cách biến lợi thế “trung tâm vùng” thành năng lực kết nối vùng, giảm chi phí logistics, mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của thành phố và toàn vùng.

Tự chủ chiến lược phải được xây dựng từ nội lực, trong đó khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao là những nền tảng quan trọng. Cần Thơ có lợi thế đặc biệt về giáo dục, đào tạo và khoa học - công nghệ của vùng. Đến năm 2025, thành phố có 113 tổ chức hoạt động khoa học - công nghệ và 10.693 nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này; lực lượng này đã tham gia triển khai 2.407 nhiệm vụ khoa học - công nghệ các cấp. Thành phố cũng hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo với sự liên kết của các quỹ đầu tư, mạng lưới hỗ trợ và các không gian khởi nghiệp. Những nguồn lực đó cần được kết nối chặt chẽ hơn với doanh nghiệp và yêu cầu phát triển thực tiễn, để tri thức không chỉ nằm trong các cơ sở nghiên cứu, đào tạo mà được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm, doanh nghiệp và giá trị kinh tế mới. Đây chính là quá trình biến tiềm lực tri thức thành năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của thành phố.

Trong kỷ nguyên số, tạo dựng năng lực mới cũng là một biểu hiện quan trọng của tự chủ chiến lược. Cần Thơ xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những động lực phát triển; đồng thời đặt mục tiêu phấn đấu vào nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số. Điều quan trọng không chỉ nằm ở thứ hạng, mà ở việc từng bước hình thành năng lực làm chủ dữ liệu, công nghệ, hạ tầng số và phương thức quản trị mới; qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền, tạo môi trường thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp và hình thành những phương thức sản xuất, kinh doanh mới. Khi đó, chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ phát triển mà trở thành một bộ phận của năng lực tự chủ phát triển.

Tự chủ không có nghĩa là tự mình làm tất cả, mà là chủ động tranh thủ ngoại lực để làm mạnh hơn nội lực. Với vị thế trung tâm vùng, Cần Thơ cần tăng cường liên kết với các địa phương trong ĐBSCL, các trung tâm kinh tế lớn trong nước và các đối tác quốc tế; mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, tiếp nhận tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản trị. Tinh thần này phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 59-NQ/TW khi xác định nguồn lực nội tại của Cần Thơ là chủ lực, nguồn lực Trung ương có vai trò hỗ trợ, thúc đẩy. Vấn đề quan trọng là lựa chọn, hấp thụ và sử dụng hiệu quả ngoại lực để nâng cao nội lực, tránh phụ thuộc và từng bước tạo ra năng lực cạnh tranh của chính mình.

Nhìn tổng thể, vận dụng tư duy tự chủ chiến lược ở Cần Thơ chính là quá trình chuyển hóa từng lợi thế thành một năng lực phát triển: không gian mới thành không gian kinh tế; vị trí trung tâm thành năng lực kết nối; tiềm lực khoa học - công nghệ thành năng lực đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số thành năng lực quản trị và cạnh tranh; ngoại lực thành nguồn bổ sung cho nội lực. Cùng với đó là giữ vững quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và các thách thức an ninh phi truyền thống để bảo đảm môi trường phát triển bền vững. Mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 10-10,5%/năm trở lên trong giai đoạn 2025-2030 vì vậy không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế, mà đòi hỏi thành phố phải tạo lập được những năng lực mới, phương thức phát triển mới và sức chống chịu mới.

Từ “Lời thề độc lập” năm 1945 đến tư duy tự chủ chiến lược hôm nay là sự tiếp nối nhất quán ý chí làm chủ vận mệnh dân tộc. Trong kỷ nguyên phát triển mới, với Cần Thơ, tự chủ chiến lược không chỉ là giữ vững bản lĩnh và độc lập trong lựa chọn, mà còn là chủ động phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, tạo lập lợi thế và kiến tạo không gian phát triển mới. Đó chính là cách thành phố chuyển hóa khát vọng phát triển thành thực lực, tạo thế và lực để phát triển nhanh, bền vững, hiện đại, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển chung của đất nước.

NGUYỄN HIỆP TRUNG - NGUYỄN HOÀI NHỚ

(Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ)

Chia sẻ bài viết