01/09/2026 - 06:23

Kinh tế di sản ở ĐBSCL

Đòn bẩy nội sinh từ bản sắc 

Kinh tế di sản - phương thức chuyển hóa “vốn văn hóa” thành động lực tăng trưởng xanh được kỳ vọng mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ĐBSCL. Để kho tàng di sản trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, ĐBSCL cần đổi mới quản trị, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và bám sát định hướng phát triển bền vững theo tinh thần Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển thuận thiên.

Trầm tích văn hóa và những điểm nghẽn của chuỗi giá trị

ĐBSCL là không gian địa kinh tế và địa văn hóa đặc sắc được bồi đắp qua hơn 300 năm cộng cư của 4 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa, Chăm. Toàn vùng sở hữu hệ sinh thái di sản đồ sộ với Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ được UNESCO vinh danh; Khu di tích khảo cổ Óc Eo -  Ba Thê, Gò Tháp; Chợ nổi Cái Răng; hệ thống chùa tháp Khmer; cùng các làng nghề dệt chiếu Định Yên, Cà Hom, bánh tráng Thuận Hưng và gốm đỏ Mang Thít... Riêng TP Cần Thơ hiện quản lý 108 di tích được xếp hạng cùng 15 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Du khách tham quan Khu trưng bày Văn hóa Óc Eo tại Bảo tàng tỉnh An Giang.

Nguồn vốn văn hóa trên là chất liệu chiến lược để thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 2-4-2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17-11-2017 của Chính phủ về phát triển bền vững thích ứng biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, tại Hội thảo khoa học do Học viện Chính trị khu vực IV vừa tổ chức năm 2026, các chuyên gia nhận định kinh tế di sản tại ĐBSCL vẫn ở mức “khai thác thô” và đối mặt nhiều rào cản lớn.

Trước hết, chuỗi giá trị du lịch di sản còn ngắn, chủ yếu dừng ở việc bán vé tham quan hoặc dâng hương đơn điệu. Khâu sáng tạo, ẩm thực chuyên đề và quà tặng lưu niệm cao cấp chưa phát triển, dẫn đến tình trạng trùng lặp sản phẩm khiến ngày lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt 1,2-1,4 ngày. Bên cạnh đó, khoảng cách giữa nơi tạo lập và nơi nắm giữ giá trị kinh tế ngày càng lớn. Hòa thượng Lý Hùng, Phó Hội trưởng Thường trực Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước TP Cần Thơ, chỉ rõ: Đội ngũ nghệ nhân am hiểu kiến trúc, mỹ thuật, âm nhạc cổ truyền ngày càng thưa vắng và cao tuổi. Nguồn lực đầu tư bảo tồn dàn trải, chính sách đãi ngộ còn thấp. Nhiều mô hình du lịch trải nghiệm văn hóa mang tính tự phát, manh mún, chưa tạo được giá trị gia tăng cao và chưa đảm bảo sinh kế vững chắc cho người dân bản địa.

Ngoài ra, thể chế kinh tế và tài chính công còn nhiều vướng mắc. TS. Trương Vĩnh Xuân, Khoa Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị khu vực IV, phân tích rằng hệ thống ngành nghề kinh doanh hiện hành chưa định danh rõ lĩnh vực kinh tế di sản, cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong quản trị di sản còn lúng túng, khiến doanh nghiệp tư nhân e dè khi đầu tư, trong khi ngân sách công chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu duy tu thực tế.

Đòn bẩy thể chế và giải pháp phát triển kinh tế di sản

Tiếp cận dưới góc độ quản lý công và kinh tế học văn hóa, ThS. Lê Thị Giang Quỳnh, Khoa Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị khu vực IV, khẳng định: Di sản văn hóa là nguồn vốn tái tạo giá trị kinh tế xanh vượt trội nếu vận hành trong hệ sinh thái hoàn chỉnh. Yêu cầu cấp thiết là chuyển căn bản từ quản lý hành chính di tích sang phát triển hệ sinh thái kinh tế di sản, kết nối bảo tồn, công nghệ số, liên kết vùng và sinh kế cộng đồng.

Lễ hội đua bò Bảy Núi (An Giang) - Di sản phi vật thể quốc gia. Ảnh: LÝ ANH LAM

Trước hết, cần hoàn thiện thể chế và cơ chế tài chính linh hoạt. Cơ quan chức năng sớm bổ sung danh mục ngành nghề kinh tế di sản vào hệ thống ngành kinh tế quốc dân, minh định quyền kinh doanh của các chủ thể. Thí điểm áp dụng mô hình PPP qua nhượng quyền quản trị dịch vụ phụ trợ từ 10-20 năm cho doanh nghiệp, trong khi Nhà nước kiểm soát nghiêm ngặt vùng lõi di tích. Các địa phương nghiên cứu phát hành “Trái phiếu di sản xanh” và mở gói tín dụng xanh đầu tư đê kè mềm sinh thái bảo vệ di tích ven sông, hỗ trợ thương hồ chuyển đổi phương tiện hướng tới Net Zero.

Song song đó, liên kết chuỗi dịch vụ và phát triển công nghiệp sáng tạo đóng vai trò đòn bẩy trực tiếp. Toàn vùng cần xúc tiến thành lập Ban điều phối vùng nhằm kết nối các tuyến sản phẩm xoay quanh Cần Thơ, An Giang và Cà Mau; tích hợp câu chuyện di sản vào nông sản OCOP chủ lực như gạo ST25, sen Đồng Tháp để nâng biên độ lợi nhuận; vận hành trục dữ liệu chung “Di sản Mekong Cloud” và số hóa 3D mở đường cho công nghiệp văn hóa bứt phá.

Khâu then chốt là nâng cấp chuỗi giá trị và bảo đảm kinh tế tuần hoàn cho cộng đồng. Cần nâng cao năng lực để các hợp tác xã, hội quán nghệ nhân trực tiếp quản trị thương hiệu, phân phối sản phẩm. Hòa thượng Lý Hùng đề xuất Nhà nước cần hỗ trợ kinh phí đào tạo, đãi ngộ nghệ nhân và đầu tư tu bổ các chùa chiền, di tích xuống cấp; ưu tiên phát triển du lịch tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số để giải quyết an sinh xã hội tại chỗ... Cơ chế trích lập tỷ lệ phần trăm doanh thu vé lập “Quỹ Bảo tồn di sản cộng đồng” do người dân trực tiếp giám sát sẽ tạo nguồn lực dài hạn chi trả phụ cấp cho nghệ nhân và trao truyền nghề cho thế hệ trẻ.

Khi người dân bản địa trở thành những chủ thể hưởng lợi xứng đáng, họ sẽ là người bảo vệ di sản trách nhiệm nhất. Đó là lời giải then chốt để ĐBSCL khơi thông nguồn lực nội sinh, đưa kinh tế di sản trở thành động lực tăng trưởng xanh, thịnh vượng vững bền.

Bài, ảnh: HÀ TRIỀU

Chia sẻ bài viết