Theo các chuyên gia sản khoa, sức khỏe tinh thần của người mẹ trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thai nhi. Sự biến động nội tiết tố kết hợp cùng những áp lực tâm lý - xã hội rất dễ khiến mẹ bầu rơi vào trầm cảm, có thể để lại nhiều hệ lụy nặng nề cho cả mẹ và con. Do đó, việc nhận diện sớm các dấu hiệu cảnh báo và chủ động đồng hành cùng mẹ bầu là “chìa khóa vàng” giúp thai kỳ an toàn, khỏe mạnh.

BS Đàm Như Bình nhấn mạnh, trầm cảm không chỉ xảy ra ở nhóm nguy cơ cao mà bất kỳ thai phụ nào cũng có nguy cơ mắc phải. Ảnh: BS cung cấp
Ranh giới giữa nhạy cảm và trầm cảm
Trong suốt thai kỳ, hầu như tháng nào thai phụ cũng trải qua các kỳ khám thai định kỳ để kiểm tra các chỉ số thể chất, như: huyết áp, cân nặng, xét nghiệm máu, siêu âm tim thai hay lượng nước ối. Tuy nhiên, sức khỏe tinh thần của người mẹ lại thường bị bỏ quên. ThS.BS Đàm Như Bình, Khoa Sanh, Bệnh viện Phụ sản TP Cần Thơ, cho biết, tình trạng lo âu, trầm cảm ở thai phụ nếu không được phát hiện và sàng lọc kịp thời, sẽ để lại nhiều hệ lụy lâu dài cho cả mẹ và bé.
Trầm cảm có thể khởi phát ngay từ giai đoạn mang thai. Những trăn trở, nỗi buồn không được giải tỏa kịp thời sẽ âm thầm tiến triển và bùng phát nặng nề hơn sau sinh. Thống kê cho thấy, cứ 7 phụ nữ mang thai thì có 1 người gặp tình trạng trầm cảm thai kỳ. Đặc biệt, cứ 5 thai phụ thì có 1 người chịu ảnh hưởng bởi các rối loạn tâm thần chu sinh, như: trầm cảm, lo âu, rối loạn lưỡng cực, loạn thần.
Để can thiệp kịp thời, thai phụ và gia đình cần phân biệt rõ ranh giới giữa sự nhạy cảm tâm lý thông thường và bệnh lý trầm cảm. Do sự thay đổi đột ngột của nội tiết tố và thể chất, mẹ bầu có thể xuất hiện cảm giác lo âu hay thoáng buồn, nhưng trạng thái này chỉ kéo dài 1-2 ngày rồi tự biến mất. Ngược lại, nếu nỗi buồn và sự bất an liên tục nhiều ngày hoặc nhiều tuần, thì đó là biểu hiện bệnh lý cần có sự hỗ trợ từ bác sĩ chuyên khoa.
Khi mẹ bị trầm cảm, nồng độ hormone cortisol và nhịp tim tăng cao sẽ truyền sang con, làm tăng nguy cơ thai chậm phát triển trong tử cung, trẻ sinh ra bị nhẹ cân, hoặc khiến mẹ đối mặt với đái tháo đường thai kỳ do rối loạn thói quen ăn uống. Trẻ sinh ra từ những người mẹ bị trầm cảm cũng có nguy cơ cao mắc hội chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD). Trầm cảm còn làm đứt gãy kết nối cảm xúc đầu đời khi người mẹ có xu hướng né tránh, sợ nghe tiếng con khóc, không thể cho con bú hoặc mất khả năng chăm sóc em bé.
Sàng lọc sớm
Các bác sĩ khuyến cáo thai phụ cần chủ động sàng lọc tâm lý sớm để kịp thời phát hiện nguy cơ và tiếp nhận tư vấn chuyên môn. Hiện nay, Bệnh viện Phụ sản TP Cần Thơ đang ứng dụng hai bộ công cụ trắc nghiệm tâm lý chuẩn quốc tế là thang đo EPDS và PHQ-9 với độ nhạy, độ đặc hiệu rất cao cho phụ nữ mang thai và sau sinh. Dựa trên kết quả, khoảng 60-70% trường hợp trầm cảm thai kỳ nhẹ và trung bình được điều trị hiệu quả bằng các liệu pháp tư vấn tâm lý nhằm giúp thai phụ nhận diện, chuyển hóa suy nghĩ tiêu cực thành tích cực. Việc sử dụng thuốc chỉ áp dụng cho các trường hợp trầm cảm mức độ nặng, như: chán ăn, thu mình hoàn toàn, mất khả năng chăm sóc bản thân và con, dưới sự giám sát y tế chặt chẽ.
Quy trình theo dõi và sàng lọc sức khỏe tâm thần cho thai phụ được phân định qua ba cột mốc thời gian.
Ở lần khám thai đầu tiên, bác sĩ đánh giá tổng thể sức khỏe tâm thần của người mẹ và khai thác tiền sử bệnh lý. Trường hợp thai phụ đang dùng thuốc điều trị tâm thần, bác sĩ sản khoa sẽ phối hợp cùng bác sĩ tâm thần để điều chỉnh liều lượng hoặc chuyển sang nhóm thuốc an toàn cho thai nhi. Thai phụ không tự ý ngưng thuốc đột ngột vì tâm lý sợ ảnh hưởng đến con, bởi điều này có thể kích phát đợt trầm cảm cấp tính nguy hiểm.
Ở những tuần cận sinh, bác sĩ sẽ tiến hành đánh giá lại trạng thái tâm lý trước cuộc chuyển dạ nhằm phát hiện và giải tỏa kịp thời những lo âu, căng thẳng dồn dập ở giai đoạn cuối thai kỳ.
Cuối cùng là giai đoạn 4-6 tuần sau sinh, hay còn gọi là tam cá nguyệt thứ tư. Đây là thời điểm sản phụ phải đối mặt với nhiều xáo trộn sinh lý và tâm lý nặng nề nhất do sự sụt giảm đột ngột của estrogen và progesterone khiến sản phụ trở nên rất nhạy cảm, dễ khóc và khó thích nghi. Cùng với đó, những tổn thương ở cơ sàn chậu, nguy cơ tiểu không kiểm soát, áp lực nuôi con bằng sữa mẹ và tình trạng thiếu ngủ kéo dài rất dễ đẩy người mẹ vào trạng thái kiệt sức, suy sụp nếu không được phát hiện và hỗ trợ kịp thời.
THU SƯƠNG