01/05/2022 - 08:01

Tham vọng lớn của Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương 

TRÍ VĂN (Tổng hợp)

Dưới vỏ bọc của đại dịch COVID-19 cùng với sự thờ ơ của Úc và Mỹ đối với các quốc đảo Thái Bình Dương trong những năm gần đây, Trung Quốc đã âm thầm đảm bảo sự hiện diện quân sự tại khu vực.

Úc lo ngại Trung Quốc hiện diện quân sự tại Solomon.

Trung Quốc và Quần đảo Solomon ngày 19-4 thông báo đã ký hiệp ước an ninh nhưng không công bố chi tiết. Tuy nhiên, theo bản dự thảo bị rò rỉ, tàu thuyền Trung Quốc sẽ được phép thực hiện các hoạt động tiếp tế hậu cần, dừng chân và quá cảnh tại Solomon. Trung Quốc cũng có thể triển khai “các lực lượng thích hợp” để bảo vệ nhân viên cùng dự án của nước này ở đây. Thỏa thuận cũng nêu rõ Quần đảo Solomon có thể yêu cầu Trung Quốc điều động cảnh sát vũ trang, binh sĩ và lực lượng hành pháp tới quốc đảo Thái Bình Dương để thực hiện các nhiệm vụ nhân đạo hoặc an ninh. Nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của bên kia, cả hai sẽ không được phép tiết lộ các nhiệm vụ này.

Vị thế của Quần đảo Solomon

Hiệp ước trên khiến các đối thủ của Bắc Kinh quan ngại. Thủ tướng Úc Scott Morrison cho rằng thỏa thuận an ninh giữa Bắc Kinh và Honiara sẽ cho phép tàu hải quân Trung Quốc neo đậu tại khu vực, cách bờ biển Úc chưa tới 2.000km. Song, không chỉ Mỹ, Úc và New Zealand tỏ ra quan ngại trước tham vọng của Trung Quốc ở Thái Bình Dương. “Ðây cũng là mối quan tâm đối với Nhật Bản. Sự hiện diện quân sự lớn hơn của Trung Quốc trong khu vực sẽ ảnh hưởng đáng kể đến sự hiện diện chiến lược của Mỹ tại khu vực. Ðó là một vấn đề quan trọng đối với Tokyo và Canberra” - Tomohiko Satake, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng Quốc gia Nhật Bản, cho biết.

Ðáp lại, phía Trung Quốc nói rằng nước này không có kế hoạch xây dựng căn cứ hải quân ở Solomon, việc Bắc Kinh ký hiệp ước an ninh với Honiara là chỉ nhằm bảo vệ các khoản đầu tư và công dân tại Solomon. “Hiệp ước không nhắm vào bất kỳ bên thứ ba nào và sẽ không thay thế cơ chế hợp tác an ninh và hợp tác song phương, đa phương hiện có” - một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc nhấn mạnh.

Thế nhưng, hiệp ước nói trên được cho giúp Trung Quốc củng cố tham vọng lâu nay nhằm thay đổi cán cân quyền lực ở khu vực Ấn Ðộ Dương - Thái Bình Dương. “Cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc giờ đây có thể trải dài từ Biển Hoa Ðông, Biển Ðông đến Nam Thái Bình Dương” - ông Satake nhấn mạnh.

Thật ra, Trung Quốc từ lâu đã “để mắt” đến thỏa thuận an ninh nói trên, bởi Bắc Kinh biết rõ rằng việc kiểm soát đối với Quần đảo Solomon đồng nghĩa với việc nước này có thể kiểm soát các tuyến đường vận tải nối Mỹ với các đồng minh trong khu vực. Sự kiểm soát của Trung Quốc đối với tuyến hàng hải này cũng sẽ tác động các tuyến cáp quang qua Thái Bình Dương.

Tham vọng lớn hơn

Ban đầu, mục tiêu chiến lược của Trung Quốc dường như là chỉ khiến các quốc đảo từng công nhận Ðài Loan quay sang thiết lập quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh. Thế nhưng, hiệp ước với Solomon đưa mọi thứ tiến thêm một bước, bởi đây không phải là thỏa thuận đầu tiên mà Trung Quốc ký kết để bảo vệ lợi ích kinh tế của nước này. Bắc Kinh từng có một căn cứ hỗ trợ quân sự đặt tại Djibouti, châu Phi. “Ðiều này chỉ là khởi đầu. Trung Quốc giống như một người đến trường đua rồi đặt cược vào từng con ngựa. Bắc Kinh đang chờ thời cơ và điều đó đã xảy ra tại Solomon. Tonga, New Guinea có lẽ là mục tiêu tiếp theo của Bắc Kinh” - chuyên gia Newsham nhận định.

Cùng quan điểm, ông Satake lo ngại Trung Quốc có thể ký hiệp ước tương tự với các quốc đảo khác như Papua New Guinea, Fiji, Vanuatu và Tonga, từ đó sẽ thúc đẩy hơn nữa tình trạng “quân sự hóa” khu vực và làm thay đổi hoàn toàn cục diện chiến lược tại khu vực.

Trung Quốc có truyền thống “làm mờ” sự thật khi quân sự hóa các đảo nhân tạo ở Biển Ðông. Năm 2018, Bắc Kinh bác bỏ các báo cáo cho rằng nước này từng đề cập với Vanuatu về việc xây dựng căn cứ quân sự tại đây. Trong những năm gần đây, những nỗ lực của Trung Quốc nhằm mở rộng ảnh hưởng trên toàn cầu và thách thức sự thống trị của Mỹ tập trung vào lĩnh vực kinh tế hơn là an ninh. Ðến nay, hơn 100 quốc gia đã tham gia Sáng kiến “Vành đai, Con đường” của Trung Quốc. Tại Thái Bình Dương, Trung Quốc đổ tiền vào hỗ trợ phát triển, cứu trợ thiên tai và hỗ trợ nỗ lực chống đại dịch COVID-19 của các nước trong khu vực. Trong đó, các nước Tonga, Vanuatu và Papua New Guinea nhận được sự “giúp đỡ” nhiệt tình từ Trung Quốc và là những quốc gia nợ Bắc Kinh nhiều nhất. Riêng Tonga nợ Trung Quốc đến hơn 50% nợ công, còn Papua New Guinea “nợ ẩn” Trung Quốc rất nhiều.

Kể từ năm 2006, hàng tỉ USD viện trợ của Trung Quốc đã được sử dụng để xây bệnh viện, cầu cảng, đường xá, tòa nhà chính phủ, sân vận động và trường học ở Thái Bình Dương. Dữ liệu của Viện nghiên cứu chính sách Lowy (Úc) cho thấy viện trợ của Trung Quốc dành cho khu vực hồi năm 2018 tăng 25%, lên mức gần 2,9 tỉ USD. Ðiều này làm dấy lên lo ngại, bởi Trung Quốc không có lịch sử “tha” cho các nước không có khả năng trả nợ. Câu hỏi đặt ra là điều gì sẽ xảy ra nếu các chính phủ không trả được các khoản vay của họ, trở thành nạn nhân của chính sách “ngoại giao bẫy nợ”

Chia sẻ bài viết