Cách đây hơn chục năm, ngành Văn hóa đã có chủ trương xét tặng danh hiệu nghệ nhân nhân dân (NNND), nghệ nhân ưu tú (NNƯT) đối với những người có nhiều đóng góp cho các loại hình văn nghệ, diễn xướng, chế tác dân gian. Thế nhưng, nhiều "báu vật" đã không thể đợi để được tôn vinh. Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định 62/2014/NĐ-CP về xét tặng danh hiệu "NNND" và "NNƯT" cho công dân Việt Nam. Nghị định có hiệu lực từ ngày 7-8-2014 nhưng, nhìn tổng thể 5 chương, 18 điều của Nghị định, vẫn còn nhiều chuyện đáng bàn.

Quy trình xét tặng NNND, NNƯT cho các nghệ nhân thực hành di sản còn khá nhiêu khê. Trong ảnh: Nghệ nhân nói thơ Vân Tiên tỉnh Long An tại Liên hoan Dân ca toàn quốc - khu vực Nam bộ năm 2013.
Theo Nghị định, quy trình xét tặng danh hiệu NNND, NNƯT được tiến hành 3 năm/lần, với 3 vòng xét duyệt từ các Hội đồng cấp cơ sở, cấp Bộ và cấp Nhà nước. Để được phong tặng, bên cạnh các đặc thù về tài năng và đạo đức, nghệ nhân còn phải đảm bảo tuổi nghề ít nhất 15 năm đối với NNƯT và 20 năm đối với NNND. Đáng bàn nhất là hồ sơ xin xét duyệt phải có đơn xin xét duyệt, băng đĩa ghi hình chứng tỏ tài năng, kỹ năng nắm giữ di sản và phải có giải thưởng... Điều này khiến nhiều người băn khoăn bởi không phải nghệ nhân nào cũng có giải thưởng. Nghệ sĩ tham gia liên hoan, hội diễn mới có giấy khen còn nghệ nhân dân gian chỉ hát cho buôn làng, bà con thôn xóm nghe thì làm sao có giải thưởng, huy chương. Đó là chưa kể những lão nghệ nhân đã 80, 90 tuổi, ở tận Tây Nguyên, rừng núi Tây Bắc, vùng sâu Đồng bằng sông Cửu Long
làm sao đáp ứng nổi các tiêu chí này? Hơn nữa, việc buộc các cụ phải viết đơn, tự thu âm, ghi hình rồi xin được
tôn vinh là điều có vẻ không nhân văn cho lắm. Một quy định khác, muốn được xét tặng danh hiệu NNND, nghệ nhân buộc phải có danh hiệu NNƯT trước đó. Những nghệ nhân lão thành nay đã ở tuổi xưa nay "quá hiếm" liệu có kịp chờ tôn vinh với quy trình tốn thời gian này?!
Việc quy định để có được danh hiệu, nghệ nhân phải có học trò, đào tạo được đội ngũ kế thừa cũng là một bài toán "đánh đố" nghệ nhân. Một số loại hình đặc thù như: hát kể sử thi của đồng bào Tây Nguyên, đàn hát chầm-riêng-chà-pây của đồng bào dân tộc Khmer
đang báo động nguy cơ mai một do thiếu nghệ nhân. Việc kêu gọi giới trẻ nghe, thưởng thức các nghệ nhân trình diễn đã khó, nói chi đến việc có học trò theo nghiệp. Trách nhiệm này thuộc các nhà quản lý văn hóa, sao lại đặt lên vai nghệ nhân vốn đã hy sinh rất nhiều để bảo tồn truyền thống.
Công bằng mà nói, Nghị định này ra đời cũng đã tạo động lực mới để người thực hành di sản dân gian tiếp tục cống hiến, theo đuổi đam mê. Tuy nhiên, sự ra đi của các "báu vật nhân văn sống": Hà Thị Cầu (xẩm), Nguyễn Thị Chúc (ca trù), Bạch Huệ (đờn ca tài tử), Trần Kích (nhã nhạc cung đình Huế)
là bài học về sự chậm trễ, sự tri ân muộn màng với những người "gìn vàng giữ ngọc". Với thủ tục rườm rà, mất thời gian, liệu có bao nhiêu nghệ nhân có đủ thời gian và sức khỏe để xin được
tôn vinh?
Bài, ảnh: ĐĂNG HUỲNH