Năm 1997, Tổ chức Y tế Thế giới đã tuyên bố, béo phì là bệnh lý mạn tính cần được quản lý và ngăn ngừa. Bởi lẽ, đây không chỉ là vấn đề thẩm mỹ mà còn dẫn đến nhiều biến chứng đe dọa sức khỏe và tính mạng con người. Hưởng ứng Ngày Béo phì Thế giới (4-3), Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) đã tổ chức chương trình giao lưu trực tuyến chủ đề “8 tỉ lý do để hành động chống béo phì”.

Các chuyên gia khuyến cáo chủ động ngăn ngừa bệnh béo phì bằng lối sống và chế độ dinh dưỡng hợp lý. Ảnh minh họa
ThS.BS Trương Lê Vân Ngọc, Trưởng Phòng Nghiệp vụ, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, cho biết, ước tính đến năm 2035, hơn một nửa dân số toàn cầu sẽ chung sống với thừa cân, béo phì. Tại Việt Nam, dự kiến đến năm 2035, cả nước có trên 7,5 triệu trẻ em và khoảng 25 triệu người trưởng thành mắc bệnh. Việt Nam cũng là một trong các quốc gia có tỷ lệ gia tăng béo phì cao nhất, đặc biệt báo động ở các khu vực đô thị với tỷ lệ 22,1%. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư, phổi tắc nghẽn mãn tính và đái tháo đường.
Ở trẻ em, béo phì làm gia tăng tác động xấu đến sức khỏe, tinh thần và gây ra các bệnh mãn tính không lây. Một số bệnh trước đây chỉ gặp ở người trưởng thành thì nay đã xuất hiện ở trẻ em, thậm chí có những trường hợp đột quỵ. Điều này gây áp lực lớn lên hệ thống y tế trong quản lý và điều trị biến chứng. Trong khi đó, một số cơ sở khám chữa bệnh chưa được trang bị đầy đủ hạ tầng để phát hiện sớm và cung cấp dịch vụ điều trị cho bệnh nhân béo phì.
Thời gian qua, Bộ Y tế triển khai nhiều giải pháp nhằm ngăn ngừa, giảm béo phì. Năm 2022, lần đầu tiên Bộ Y tế ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị béo phì cho mọi đối tượng, bao gồm biện pháp không dùng thuốc (lối sống, dinh dưỡng), dùng thuốc và phẫu thuật. Bộ Y tế đang tiếp tục phối hợp với các Hội y khoa chuyên ngành cập nhật hướng dẫn cho cả người lớn và trẻ em. Bộ Y tế còn xây dựng chiến lược quốc gia về phòng, chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn tiếp theo, tập trung chủ động phòng bệnh và quản lý điều trị liên tục suốt vòng đời. Năm 2025, Quốc hội đã chính thức ban hành Luật Phòng bệnh, bao gồm nội dung kiểm soát béo phì.
Theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bích Đào, Chủ tịch Hội Nội tiết đái tháo đường TP Hồ Chí Minh, béo phì liên quan đến hơn 200 biến chứng sức khỏe, như: đái tháo đường tuýp 2, tăng huyết áp, tim mạch, ung thư, thoái hóa khớp, trào ngược dạ dày thực quản... Tỷ lệ biến chứng rất đáng lo ngại: trào ngược dạ dày thực quản 35%, ngưng thở khi ngủ 40%, tăng huyết áp 51%, thoái hóa khớp gối 52% và đái tháo đường 21%...
Theo tiêu chuẩn của WHO, việc chẩn đoán béo phì đối với người châu Á dựa vào chỉ số BMI: Thừa cân khi BMI từ 23 đến dưới 25; béo phì khi BMI từ 25 trở lên. Bên cạnh đó, chu vi vòng eo nam giới từ 90cm và nữ giới từ 80cm trở lên cũng là thước đo đánh giá nguy cơ béo phì. Béo phì không chỉ do nạp năng lượng quá mức mà còn liên quan đến môi trường, văn hóa, kinh tế, xã hội, giấc ngủ, căng thẳng và lối sống ít vận động. Trong đó, các yếu tố nền tảng gồm di truyền (chiếm 40-70%), tâm lý và cả thuốc men.
PGS.TS Hồ Thị Kim Thanh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, Giám đốc Trung tâm Y học gia đình và chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, nhấn mạnh, béo phì là bệnh mạn tính cần điều trị sớm; với mục tiêu dự phòng các biến chứng thông qua việc kiểm soát cân nặng và các chỉ số cơ thể. Tuy nhiên, việc điều trị béo phì tại Việt Nam hiện vẫn còn khoảng trống lớn trong nhận thức: Trong 100 người béo phì, chỉ có 40 người được chẩn đoán; dưới 20% người được chẩn đoán có sử dụng các phương pháp giảm cân khoa học và chỉ 1,3% được kê đơn thuốc. Đa phần người bệnh nghĩ đây là việc cá nhân và có thể tự quản lý dẫn đến các cách tự điều trị theo truyền miệng, sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc gây suy tim, suy thận, nguy hiểm đến tính mạng.
Các phương pháp điều trị béo phì hiện nay bao gồm: chế độ ăn kiêng lành mạnh, tập thể dục, trị liệu tâm lý, thuốc điều trị, các thủ thuật nội soi hoặc phẫu thuật giảm cân. Đầu tiên là thay đổi lối sống với sự tư vấn của cán bộ y tế về dinh dưỡng, hoạt động thể chất phù hợp và quản lý giấc ngủ. Đây là nền tảng xuyên suốt. Đối với trị liệu dược lý hoặc can thiệp phẫu thuật, người bệnh cần được bác sĩ thăm khám, cá thể hóa điều trị và đánh giá chi tiết.
THU SƯƠNG