TRÍ VĂN (Theo The Conversation, Washington Times)
Trong bài viết trên tờ The Conversation số ra mới đây, giáo sư an ninh và quan hệ quốc tế Christoph Bluth của Ðại học Bradford (Anh) đã có ý so sánh sự hiện diện quân sự hiện nay của Mỹ tại châu Âu và những tuyên bố hùng hồn của Tổng thống Joe Biden về việc Washington sẽ tái bố trí quân lực tại lục địa già là hiện thân của cuộc một cuộc Chiến tranh Lạnh mới. Tuy nhiên, các nhà phân tích quân sự đang phân vân rằng lính Mỹ có đồn trú lâu dài tại đây hay không.

Binh sĩ Mỹ được điều đến Ðông Âu. Ảnh: AFP
tại hội nghị thượng đỉnh Tổ chức Hiệp ước Bắc Ðại Tây Dương (NATO) ở thủ đô Madrid (Tây Ban Nha) hồi cuối tháng 6, Tổng thống Mỹ Biden cho biết Washington có kế hoạch tái bố trí lực lượng từ Ðức đến Ba Lan và Romania, đồng thời điều thêm khu trục hạm ở sườn phía Nam của NATO trong những tháng tới. Trong khi đó, các nước thành viên NATO cam kết sẽ tăng cường lực lượng phản ứng nhanh, từ 40.000 quân hiện tại lên hơn 300.000 binh sĩ trong tương lai. Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg nhấn mạnh rằng kế hoạch này là một phần "của cuộc đại tu lớn nhất về khả năng phòng thủ và răn đe tập thể kể từ Chiến tranh Lạnh" trong "kỷ nguyên cạnh tranh chiến lược".
So sánh với thời Chiến tranh Lạnh
Theo tuyên bố của ông chủ Nhà Trắng, Mỹ sẽ thành lập trụ sở thường trực Quân đoàn 5 Bộ binh tại Ba Lan, giữ vai trò là sở chỉ huy tiền phương kiêm chỉ huy các đơn vị đồn trú. Bên cạnh đó, Washington sẽ thành lập thêm một lữ đoàn đóng tại Romania để tăng cường sự hiện diện của NATO ở sườn phía Ðông cùng với các đơn vị quân đội Mỹ cơ động khác. Ngoài ra, Mỹ cũng đẩy nhanh triển khai các lực lượng đặc nhiệm, xe bọc thép, hệ thống phòng không để tăng cường an ninh cho khu vực, đồng thời triển khai thêm 2 phi đội chiến đấu cơ F-35 tới Anh và điều thêm 2 khu trục hạm tới căn cứ hải quân Rota ở Tây Ban Nha.
Hiện tại, Mỹ có khoảng 100.000 binh sĩ đóng tại châu Âu. Tuy nhiên, con số này ít hơn nhiều so với những năm đầu Chiến tranh Lạnh vào cuối những năm 1950, thời điểm Mỹ có khoảng 450.000 quân ở châu Âu. Trong phần lớn thời kỳ Chiến tranh Lạnh, quân số Mỹ được duy trì ở mức khoảng 330.000 người, trong khi Liên Xô có khoảng 500.000 quân ở Ðông Ðức.
Trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Khối Hiệp ước Warsaw (gồm các nước Liên Xô, Albania, Bulgaria, Tiệp Khắc, Ðông Ðức, Hungary, Ba Lan, Romania) và NATO duy trì lực lượng quân đội sẵn sàng chiến đấu ở mức rất cao trong trường hợp nổ ra chiến tranh quy mô lớn, lần lượt là 1,2 triệu và 900.000 binh sĩ. Cả 2 đều có lượng lớn xe tăng cùng với pháo binh, xe bọc thép, máy bay chiến đấu, đồng thời sở hữu các kho vũ khí quy mô lớn. Ngoài ra, NATO còn triển khai hơn 7.000 vũ khí hạt nhân chiến thuật, gấp nhiều lần so với con số chỉ khoảng 200 ở thời điểm hiện tại.
Sau khi Khối Hiệp ước Warsaw tan rã và Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, dẫn tới sự rút lui toàn bộ lực lượng Liên Xô ra khỏi Ðông Âu, Mỹ đã giảm đáng kể sự hiện diện quân sự của nước này ở châu Âu, xuống chỉ còn khoảng 60.000 quân. Sau khi Thỏa thuận Sáng lập quan hệ Nga - NATO được ký kết năm 1997, sứ mệnh bảo vệ châu Âu của NATO đã trở thành mối quan tâm ít cấp bách hơn. Song, lực lượng Mỹ ở châu Âu vẫn là một phần của mô hình triển khai toàn cầu để hỗ trợ các hoạt động can thiệp ở Afghanistan và Iraq, bởi "cuộc chiến chống khủng bố" trở thành ưu tiên chính trong chính sách an ninh toàn cầu của Mỹ. Ðến năm 2018, quân số lực lượng Mỹ ở châu Âu giảm xuống còn tổng cộng 65.000 người.
Lính Mỹ sẽ duy trì bao lâu?
Kể từ khi lên nắm quyền, cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump không ngừng thúc đẩy các quốc gia châu Âu chi tiêu nhiều hơn cho an ninh quốc phòng và giảm bớt gánh nặng cho Mỹ. Nỗ lực của ông đã mang lại "quả ngọt". Theo đó, nhiều thành viên NATO đã tăng chi tiêu quốc phòng hàng năm lên trên 2% GDP. Tuy nhiên, Ủy ban châu Âu (EC) cho biết, trong giai đoạn 1999-2021, tổng mức chi tiêu quốc phòng của Liên minh châu Âu (EU) chỉ tăng 20%, trong đó năm 2020 chiếm 1,3% GDP. Trong cùng thời gian này, chi tiêu quốc phòng của Mỹ tăng 66%, Nga tăng 292% và Trung Quốc tăng 592%. Thế nên khi cuộc chiến Nga - Ukraine nổ ra, các quốc gia chủ chốt tại châu Âu như Ðức và Ba Lan đã lập tức tăng ngân sách quốc phòng, đồng thời cam kết sẽ chi thêm cho quân sự nhiều hơn nữa.
Có điều trong ngắn hạn, châu Âu rõ ràng vẫn phụ thuộc vào quân lực, vũ khí và trang thiết bị của Mỹ, đặc biệt là Ba Lan và các nước Baltic vốn nằm rất gần với Ukraine. Thế nhưng Lầu Năm Góc đã gần như bỏ qua các câu hỏi về việc họ sẽ duy trì mức độ của quân đội Mỹ ở châu Âu trong bao lâu, khi trong số 100.000 lính Mỹ hiện nay sẽ có 35.000 binh sĩ được bố trí luân phiên, tức con số này có thể đồn trú chỉ trong vòng 1 năm.
"Sau khi Nga phát động "chiến dịch quân sự đặc biệt" tại Ukraine hồi tháng 2, chúng tôi đã làm những gì chúng tôi phải làm trong ngắn hạn để ngăn chặn một cuộc tấn công nhằm vào các thành viên NATO. Thật không may, chúng tôi không biết điều này kéo dài bao lâu" - Bradley Bowman, Giám đốc cấp cao Trung tâm Quyền lực Quân sự và Chính trị tại Quỹ Bảo vệ các nền dân chủ (Mỹ), bày tỏ quan điểm về khả năng duy trì quân sự của Mỹ tại châu Âu.
Ông Bowman nói tiếp: "Chúng tôi thực sự cần châu Âu tăng cường năng lực quốc phòng nhiều nhất có thể để giảm bớt gánh nặng an ninh cho lực lượng của chúng tôi ở đó càng nhiều càng tốt để chúng tôi có thể phân bổ nhiều hơn các nguồn lực có giới hạn của mình ở những nơi khác", mà cụ thể là khu vực Ấn Ðộ Dương - Thái Bình Dương - nơi Trung Quốc được đánh là đối thủ tiềm năng lớn nhất của Mỹ và NATO.
Michael O’Hanlon, nhà nghiên cứu cấp cao và là giám đốc nghiên cứu về chính sách đối ngoại tại Viện Brookings (Mỹ), cho rằng Mỹ và đồng minh khó có thể cùng lúc đủ nguồn lực kinh tế, quân sự và ngoại giao để giải quyết các cuộc khủng hoảng và xung đột leo thang tại cả châu Âu lẫn châu Á, do đó NATO cần ưu tiên giữ ổn định tại châu Âu như là mỏ neo cho trật tự toàn cầu trong tương lai. Các chuyên gia quân sự đánh giá sự hiện diện quân sự của Mỹ là sự răn đe mang tính sống còn đối với an ninh châu Âu và chính sách đối ngoại lâu dài của Washington đối với thế giới. Tuy vậy, các cường quốc quân sự như Mỹ, Anh, Pháp có thể phối hợp với các đối tác tại châu Á - Thái Bình Dương như Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand nhằm răn đe Trung Quốc.