Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 và Luật Nhà ở năm 2023, tập trung vào những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn quản lý, sử dụng đất và nhà ở. Đây cũng là bước tiếp tục cụ thể hóa chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực cho phát triển nhanh và bền vững.
Từ thực tiễn đổi mới đến yêu cầu hoàn thiện thể chế
Bài học từ gần bốn thập kỷ đổi mới cho thấy, cùng với nguồn lực vật chất, thể chế và phương thức quản lý có vai trò rất quan trọng trong việc giải phóng sức sản xuất. Đối với đất đai - nguồn lực đặc biệt của quốc gia, thì yêu cầu này càng rõ nét.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu hiện đại hóa đất nước và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, việc tiếp tục rà soát, sửa đổi và hoàn thiện Luật Đất đai năm 2024 cùng Luật Nhà ở năm 2023 là yêu cầu quan trọng trong quá trình tiếp tục hoàn thiện thể chế, quán triệt sâu sắc các chủ trương của Đảng.
Đại biểu Trần Hoàng Ngân (Thành phố Hồ Chí Minh) đã chỉ rõ tại diễn đàn nghị trường, thể chế giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia. Những ách tắc về đất đai và bất cập trên thị trường bất động sản thời gian qua chính là “điểm nghẽn của các điểm nghẽn”. Khơi thông thể chế đất đai và nhà ở sẽ góp phần giải phóng sức sản xuất của toàn xã hội, đưa các nguồn vốn đang nằm trong những dự án dở dang vào nền kinh tế, tạo công ăn việc làm và củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp cũng như các tầng lớp nhân dân. Khi thể chế được hoàn thiện và các nguồn lực được huy động, sử dụng hiệu quả, chúng ta sẽ tạo thêm động lực tăng trưởng, tương tự như tác động tích cực mà chính sách Khoán 10 đã mang lại cho đất nước.
Khơi thông nguồn lực đất đai
Nhìn lại thực tiễn công tác quản lý nhà nước về đất đai những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém kéo dài như: Tình trạng đất đai bị lãng phí, hàng nghìn héc-ta đất nông, lâm trường bị bỏ hoang hoặc sử dụng sai mục đích; hiện tượng lấn chiếm đất công, đầu cơ, thổi giá đất tạo nên những cơn “sốt ảo” bất thường làm xáo trộn đời sống kinh tế - xã hội, đẩy chi phí đầu vào của doanh nghiệp lên mức cao và hạn chế cơ hội tiếp cận tư liệu sản xuất của những người có nhu cầu thực tế.
Sự bất cập của thị trường đất đai không chỉ làm thất thu ngân sách nhà nước mà còn liên quan đến tình trạng khiếu nại, tố cáo phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến ổn định xã hội và trật tự, an toàn xã hội. Căn nguyên sâu xa nằm ở chỗ cơ chế định giá đất chưa thực sự phản ánh đầy đủ giá trị thị trường, thiếu dữ liệu tin cậy, quy trình thu hồi đất và bồi thường, tái định cư trước đây có lúc, có nơi còn mang nặng tính áp đặt cơ học.
Chính vì vậy, định hướng điều chỉnh chính sách sửa đổi Luật Đất đai lần này chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy chú trọng giá trị bồi thường bằng tiền sang tư duy bảo đảm sinh kế toàn diện và lâu dài cho người dân có đất bị thu hồi. Bồi thường phải bảo đảm nguyên tắc: Chỗ ở mới phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, giao thông thuận lợi, gần trường học, bệnh viện và gắn liền với phương án đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm cụ thể.
Song song với đó, yêu cầu cấp thiết là phải thiết lập cơ chế định giá đất công khai, minh bạch, khách quan. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về giá đất, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về giá đất đa mục tiêu, ứng dụng công nghệ số hiện đại và phát huy vai trò của các đơn vị tư vấn, thẩm định giá chuyên nghiệp. Khi giá đất được xác định sát với thực tế thị trường theo quy định, doanh nghiệp sẽ giảm thiểu được những chi phí phát sinh không cần thiết, rút ngắn thời gian chuẩn bị mặt bằng dự án; đồng thời quyền lợi hợp pháp của người dân bị thu hồi đất được bảo vệ tốt hơn, góp phần tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch và lành mạnh.
Tái định hình chính sách nhà ở
Đại biểu Trương Thị Bích Hạnh (Thành phố Hồ Chí Minh) đã đề xuất: Thước đo thành công của chính sách nhà ở không thể chỉ dừng lại ở những con số báo cáo về số lượng mét vuông sàn hay số lượng căn hộ hoàn thành, mà phải được lượng hóa bằng số lượng người dân, người lao động có hoàn cảnh khó khăn thực sự tiếp cận và dọn vào sinh sống trong những căn nhà phù hợp với khả năng chi trả của họ.
Cùng với đó, phải chuyển đổi căn bản từ tư duy “tạo lập quỹ đất cơ học” (vốn thường là những khu đất xa, thiếu tiện ích) sang tư duy “tạo lập quỹ nhà ở xã hội hoàn chỉnh”. Mỗi dự án nhà ở xã hội phải là một không gian sống văn minh, được kết nối hạ tầng giao thông đồng bộ, có trường học, trạm y tế, công viên cây xanh và các thiết chế văn hóa phục vụ người lao động, không để nhà ở xã hội trở thành những “khu ốc đảo” biệt lập và xuống cấp. Thước đo của chính sách nhà ở không chỉ tính bằng số lượng căn nhà hoàn thành, mà phải căn cứ vào số lượng người dân thực sự tiếp cận được nhà ở phù hợp với khả năng chi trả.
Đột phá phân khúc nhà ở cho thuê và tinh giản thủ tục
Một trong những điểm nghẽn lớn trong việc thực thi chính sách nhà ở xã hội thời gian qua là quy trình xét duyệt hồ sơ mua nhà còn rườm rà, phức tạp, nhiều khâu và thủ tục chứng minh thu nhập cứng nhắc. Đại biểu Phan Thị Thúy Linh (Đà Nẵng) đã kiến nghị một giải pháp thiết thực: Cần luật hóa thời hạn xử lý hồ sơ, đơn giản hóa và số hóa quy trình thẩm định đối tượng thụ hưởng thông qua cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia. Khi nhu cầu vượt quá nguồn cung, cần áp dụng bảng tiêu chí chấm điểm ưu tiên công khai, minh bạch, có sự giám sát phù hợp thay vì phụ thuộc vào những lá bốc thăm may rủi.
Đặc biệt, để giải quyết căn cơ bài toán an cư cho nhóm đối tượng có thu nhập thấp chưa đủ tích lũy tài chính để mua nhà trả góp, phân khúc “Nhà ở xã hội cho thuê” cần được xác định là một hướng quan trọng. Đại biểu Lương Thị Hoa (Thanh Hóa) nhấn mạnh cần có cơ chế ưu đãi phù hợp về miễn, giảm tiền sử dụng đất, hỗ trợ lãi suất tín dụng dài hạn và ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển các dự án nhà ở cho thuê.
Tuy nhiên, nguyên tắc là các chính sách ưu đãi của Nhà nước phải luôn song hành với cơ chế giám sát, ràng buộc trách nhiệm pháp lý rõ ràng của chủ đầu tư về chất lượng công trình, niên hạn sử dụng và mức giá thuê ổn định, phù hợp với thu nhập của người lao động. Cần lấp kín các kẽ hở pháp lý, thiết lập các chế tài xử phạt nghiêm minh để ngăn chặn tình trạng đầu cơ, trục lợi chính sách, thông đồng mua đi bán lại, sang tay kiếm lời bất chính từ chính sách dành cho người có thu nhập thấp.
HẢI NGỌC (TTXVN)