Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị (ngày 20-1-2003) về xây dựng và phát triển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thời kỳ 2001- 2010 được xem là chính sách “đòn bẩy” thúc đẩy ĐBSCL phát triển mạnh mẽ hơn. Thực hiện Nghị quyết 21, các tỉnh, thành trong vùng đã đề ra nhiều chương trình, kế hoạch cụ thể hóa Nghị quyết. Phóng viên Báo Cần Thơ đã ghi nhận ý kiến kiến nghị của lãnh đạo một số tỉnh, thành trong vùng về chính sách
“đòn bẩy” này.
* Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ: Huy động sức mạnh tổng hợp đưa TP Cần Thơ bứt phá
Trong giai đoạn 2001-2011, được sự quan tâm chỉ đạo của Trung ương Đảng, các Bộ, ngành Trung ương, sự hợp tác, hỗ trợ của các tỉnh, thành trong khu vực ĐBSCL và cả nước, hệ thống chính trị của TP Cần Thơ đã phát huy thành quả qua các thời kỳ. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã đoàn kết, chủ động, sáng tạo vượt qua khó khăn, quyết tâm, phấn đấu đưa thành phố phát triển nhanh và bền vững. Kinh tế TP Cần Thơ phát triển với tốc độ nhanh, bình quân 14,3%/năm; đời sống nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng trên 6 lần so với năm 2001 (đến năm 2011 thu nhập bình quân đầu người đạt 48,9 triệu đồng/người/năm).
TP Cần Thơ đang đóng vai trò động lực phát triển của vùng ĐBSCL. Thực hiện Nghị quyết 21/NQ-TW và Nghị quyết 45/NQ-TW của Bộ Chính trị đã mở ra cơ hội, tháo gỡ những khó khăn, huy động được sức mạnh tổng hợp cho TP Cần Thơ bứt phá đi lên. Nhiều công trình, dự án được đầu tư, hoàn thành đưa vào sử dụng có sức lan tỏa, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển toàn vùng ĐBSCL. Nhiều công trình hạ tầng trọng điểm mang tầm khu vực và quốc gia đã hoàn thành đưa vào sử dụng...
 |
|
Công trình đường Mậu Thân - Sân bay Trà Nóc có tổng mức đầu tư 1.851 tỉ đồng, dự kiến khánh thành vào ngày 26-4-2012, cùng với Cảng Hàng không Quốc tế Cần Thơ tạo điều kiện cho vùng ĐBSCL phát triển mạnh mẽ. Ảnh: ANH KHOA |
Trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2015, TP Cần Thơ phấn đấu giai đoạn 2011-2015 tăng trưởng kinh tế bình quân 16%/năm trở lên. Đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, chú trọng cải thiện chất lượng và bảo vệ môi trường. Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội...
Thành phố cũng xác định hợp tác phát triển toàn diện với các tỉnh, thành trong vùng ĐBSCL và cả nước. Đến nay, thành phố đã ký kết toàn diện về phát triển kinh tế - xã hội với 7 tỉnh trong vùng ĐBSCL, TP Hồ Chí Minh, huyện Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu)... trên tinh thần tự nguyện, đoàn kết, tôn trọng, hỗ trợ, cam kết thực hiện đúng các nội dung đã ký kết. Song, để liên kết, hợp tác vùng phát huy hiệu quả, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ với vai trò đầu mối để thúc đẩy việc liên kết này.
* Ông Nguyễn Văn Khang, Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang: Cần “nhạc trưởng” điều phối hoạt động hợp tác
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2001-2010 đạt 10%/năm, riêng năm 2011 đạt 11%; thu nhập bình quân đầu người đạt 27,7 triệu đồng/người năm 2011, tăng gấp 5,4 lần so với năm 2000; tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 15,3% (2000) lên 25,3% (2011)... Đạt được những kết quả này, tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong việc cụ thể hóa và đưa các nghị quyết của Trung ương, chính sách của tỉnh vào thực tiễn phát triển của tỉnh. Tổng giá trị sản xuất nông, lâm và thủy sản đứng thứ 5 vùng ĐBSCL; với diện tích 68.000ha, sản lượng thu hoạch hàng năm trên 980.000 tấn, Tiền Giang đứng đầu cả nước về sản xuất cây ăn trái...
Với mục tiêu trở thành tỉnh có nền kinh tế phát triển vào năm 2020, Tiền Giang sẽ tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, nhất là các công trình trọng điểm; từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ. Giai đoạn 2011-2020, GDP tăng bình quân 12%/năm; tỷ trọng khu vực II chiếm 38,5%, khu vực III 36,5%, khu vực I chiếm 24,7% trong cơ cấu GDP vào năm 2020. Song song đó, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh liên kết, hợp tác nhiều mặt với các tỉnh, thành vùng ĐBSCL. Thời gian qua, sự liên kết hợp tác giữa các tỉnh, thành vẫn còn rời rạc, nên chưa phát huy hết thế mạnh, tiềm năng của vùng. Tôi cho rằng, để liên kết hợp tác phát triển mạnh mẽ, cần có một cơ chế pháp lý rõ ràng và có “nhạc trưởng” điều phối hoạt động hợp tác vùng. Trước mắt, cần liên kết vùng từ khâu quy hoạch dựa trên những ngành, sản phẩm chủ lực của từng địa phương để khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế của mình. Hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục; đổi mới các cơ chế, chính sách về liên kết vùng.
* Ông Vương Bình Thạnh, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang: Phấn đấu đến năm 2020 đạt mức phát triển khá trong vùng
 |
|
|
Giai đoạn 2001 - 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh An Giang đạt 9,56%/năm. Năm 2010, GDP bình quân đầu người của tỉnh đạt trên 21,9 triệu đồng/người/năm, đứng thứ 4 trong vùng ĐBSCL (sau Long An, TP Cần Thơ, Kiên Giang). Ngành nông nghiệp phát triển khá toàn diện, sản lượng lúa chiếm khoảng 16-17%, cá nuôi chiếm 20-30% vùng ĐBSCL. Nhiều công trình về hạ tầng giao thông, thương mại - dịch vụ, kinh tế biên mậu... được tập trung đầu tư. Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được triển khai sâu rộng và hiệu quả (đặc biệt là với 2 tỉnh của Vương quốc Campuchia), thực hiện tốt việc phân giới cắm mốc; quy tập hài cốt liệt sĩ đạt nhiều kết quả tốt đẹp, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định và tăng thêm nguồn lực cho phát triển đất nước. Tỉnh đã ký kết hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với các tỉnh Đồng Tháp, Kiên Giang giai đoạn 2006-2010, trên các lĩnh vực: vận tải, du lịch, đào tạo, y tế...
ĐBSCL giàu tiềm năng với lúa gạo, thủy sản, cây ăn trái, phát triển du lịch... Tuy nhiên, với việc khai thác tài nguyên thô cùng với sự thiếu đầu tư về kết cấu hạ tầng... đã làm cho vùng ĐBSCL chưa phát triển đúng với tiềm năng, lợi thế của nó. Để ĐBSCL phát triển, cần xác định được lợi thế so sánh của từng tỉnh, thành, kể cả các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL. Từ đó có quy hoạch phát triển chung cho cả vùng và cho vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL. Tỉnh An Giang đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội đạt mức khá trong vùng. Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục và đào tạo, từng bước cải thiện đời sống của nhân dân; đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường liên kết phát triển nhất với các địa phương trong vùng ĐBSCL và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đầu tư phát triển các chương trình, đề án, dự án mang tính đột phá, có trọng tâm, trọng điểm.
* Ông Trần Công Chánh, Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang: Phát triển kinh tế gắn với xây dựng nông thôn mới
Thực hiện Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị, trong quá trình xây dựng và phát triển, Hậu Giang luôn xác định chủ trương đột phá hàng năm phù hợp với điều kiện của tỉnh và đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Năm 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao 14,12%...
Là tỉnh thuần nông, Hậu Giang xác định sẽ chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Tỉnh đã phê duyệt quy hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới tại 54 xã, riêng 11 xã điểm của tỉnh hiện đạt từ 5-12 tiêu chí nông thôn mới. Tỉnh tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, khuyến khích đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nông nghiệp, nông thôn. Trong sản xuất nông nghiệp, tỉnh hướng đến xây dựng mối liên kết toàn diện, dựa vào tiềm năng và lợi thế của địa phương để quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh. Theo đó, đầu tư phát triển đồng bộ, gắn vùng chuyên canh sản xuất với ngành công nghiệp chế biến, chú trọng công tác xây dựng thương hiệu nông sản chủ lực, hướng đến thị trường xuất khẩu.
Giai đoạn 2011-2015, tỉnh Hậu Giang đã xây dựng 4 Chương trình hành động gồm: Chương trình Nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; Chương trình Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; Chương trình Phát triển nguồn nhân lực; Chương trình Cải cách hành chính. Đây là 4 trọng tâm, trong từng chương trình có một số mũi đột phá và đề ra mục tiêu, giải pháp cụ thể hàng năm để huy động mọi nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh và góp phần cho sự phát triển chung của vùng ĐBSCL.
Nhóm PV Kinh tế (lược ghi)