17/07/2022 - 19:36

Chính sách của Trung Quốc và “núi nợ” của Sri Lanka 

Vài năm trước đây, giữa lúc nguồn dự trữ ngoại hối của Sri Lanka cạn kiệt trong khi Colombo chìm trong “núi nợ”, một số quan chức nước này từng cho rằng cần yêu cầu Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cứu trợ. Thế nhưng, Trung Quốc đã đề nghị Sri Lanka không nên nhờ vã IMF, thay vào đó là vay thêm khoản nợ mới từ Bắc Kinh để chi trả các khoản nợ cũ. Colombo đồng ý và ngay sau đó 3 tỉ USD tín dụng mới được các ngân hàng Trung Quốc giải ngân trong giai đoạn 2020-2021.

Gây “khó dễ” cho con nợ

Giờ đây, kế hoạch đó đã phá sản, khiến Sri Lanka rơi vào hỗn loạn. Trong bối cảnh nợ nần chồng chất và lạm phát cao ngất trời, quốc đảo này đã cạn kiệt nguồn USD dự trữ để chi trả cho việc nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, khiến người dân phải xếp hàng hàng giờ, thậm chí hàng ngày, để mua nhiên liệu. Vào thời điểm Colombo quyết định yêu cầu IMF cứu trợ hồi tháng 4, hệ thống kinh tế Sri Lanka đã rơi vào cuộc suy thoái sâu sắc nhất kể từ khi nước này giành độc lập vào năm 1948. “Thay vì tận dụng nguồn dự trữ hạn chế mà chúng tôi có được và cơ cấu lại các khoản nợ thì chúng tôi tiếp tục thanh toán các khoản nợ cho đến khi các khoản dự trữ cạn kiệt. Chúng tôi nên cậy nhờ IMF ít nhất 12 tháng trước khi chúng tôi làm việc đó” - Cựu Bộ trưởng Tài chính Sri Lanka Ali Sabry bày tỏ sự hối tiếc.

Cảng Hambantota luôn trong tình trạng vắng vẻ. Ảnh: Bloomberg

Thật ra, không riêng gì Sri Lanka, các quốc gia châu Phi như Zambia và Ethiopia - những “con nợ” lớn của Trung Quốc, cũng đang tìm cách tái cơ cấu khoản nợ của họ. Trong khi đó, các nước đang phát triển khác như Kenya đang nợ Trung Quốc khoản tiền lớn đến nỗi các nhà kinh tế cho rằng họ không thể hoàn trả cho Bắc Kinh khi mà kỳ hạn thanh toán sắp đến.

Thế nhưng, Bắc Kinh lâu nay nhìn chung thường hay gây “khó dễ” cho nỗ lực tái cơ cấu nợ của các nước. Chẳng hạn, khi Zambia đối mặt với tình trạng vỡ nợ vào mùa thu năm 2020, Bắc Kinh đã cố gắng cung cấp cho Lusaka nguồn tài chính mới để nước này có thể thanh toán các khoản vay phát triển cơ sở hạ tầng. Song, Robert Besseling, Giám đốc điều hành của công ty tư vấn rủi ro EXX Africa, cho biết các công ty Trung Quốc liên tục gây áp lực lên Bộ Tài chính Zambia để đòi nước này phải trả nợ, đồng thời yêu cầu Chính phủ Zambia phải đưa các tài sản thế chấp mới. Ðáng chú ý, một số tập đoàn Trung Quốc còn tìm cách chiếm quyền kiểm soát các khu mỏ của Konkola Copper, công ty con của công ty khai thác Vedanta Resources (Anh). Thậm chí, Công ty xây dựng kỹ thuật dân dụng Trung Quốc (CCECC) còn buộc Zambia phải cơ cấu một số khoản nợ theo hướng chấp nhận thế chấp các nguồn tài nguyên khoáng sản.

Chủ nợ lớn nhất của Sri Lanka

Cách đây chừng một thập niên, Trung Quốc đã cho Sri Lanka vay hàng tỉ USD để phát triển các dự án cơ sở hạ tầng, gồm xây dựng đường sá, mở rộng đường sắt, xây dựng cảng biển, sân bay và sân vận động. Một trong số những dự án đó, như Nhà máy điện Lakvijaya cách thủ đô Colombo khoảng 80 dặm về phía Bắc, đã giúp cung cấp năng lượng cho một số khu vực nông thôn, kém phát triển nhất của nước này.

Thế nhưng, hầu hết các dự án khác không mang lại nguồn lợi nhuận như hy vọng. Chẳng hạn, sân bay vốn được Sri Lanka đổ tiền xây dựng để tiếp đón 1 triệu khách mỗi năm đang hoạt động thua lỗ, trong khi sân vận động bóng chày đến nay chỉ được dùng để tổ chức Giải vô địch bóng chày thế giới năm 2011. Ðáng chú ý nhất là cảng nước sâu Hambantota đã không tạo ra đủ nguồn thu nhập để trả nợ, buộc quốc gia 22 triệu dân này hồi năm 2017 đã phải cho Trung Quốc thuê dài hạn 99 năm để “khất” khoản nợ 1,1 tỉ USD. Giới phê bình ở Sri Lanka xem đây là một ví dụ của chính sách “ngoại giao bẫy nợ” của Trung Quốc.

Theo tờ Nhật báo Phố Wall, trong giai đoạn 2000-2020, Trung Quốc đã cho Sri Lanka vay tổng cộng 11,7 tỉ USD để phát triển cơ sở hạ tầng. Ðến năm 2021, Colombo vay thêm của Bắc Kinh 3 tỉ USD.

Về cơ bản, Trung Quốc không công khai tiết lộ các khoản cho vay phát triển cơ sở hạ tầng trên khắp châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh. Song, hoạt động cho vay của Bắc Kinh đang được chú ý bởi tác động của đại dịch COVID-19, lãi suất tăng cao cũng như tình trạng xáo trộn trên thị trường trái phiếu đe dọa đẩy các nước mắc nợ sâu vào con đường vỡ nợ.

TRÍ VĂN (Tổng hợp)

Chia sẻ bài viết