Quyết định số 2307/QĐ-TTg ngày 17-10-2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Cửu Long thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, được xem là một quyết sách lịch sử, đánh dấu sự chuyển đổi tư duy chiến lược tại ĐBSCL. Từ việc bị động “chống chọi” với thiên tai, vùng châu thổ này chính thức chuyển mình sang chiến lược “thuận thiên có kiểm soát” và quản lý tổng hợp nguồn nước, biến thách thức của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn thành đòn bẩy tái cơ cấu nền kinh tế.

Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé được xem là hình mẫu thành công và là minh chứng thực tế quan trọng cho sự chuyển đổi tư duy “thuận thiên có kiểm soát” ở ĐBSCL. Trong ảnh: Một góc công trình Cống Cái Lớn thuộc Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé.
Khẳng định tư duy mới: tài nguyên mặn, lợ là cốt lõi
Trong quan điểm phát triển mới, tư duy “coi nước mặn, nước lợ cũng là tài nguyên” là cốt lõi. Điều này chấm dứt mô hình “ngăn mặn, giữ ngọt” cứng nhắc, mở đường cho việc phân vùng sinh thái rõ ràng để phục vụ tái cơ cấu các ngành kinh tế.
Quy hoạch phân chia 3 vùng sinh thái rõ rệt, gắn liền với định hướng sản xuất:
- Vùng sinh thái ngọt (khoảng 1,9 triệu héc-ta) bao gồm một phần của các tỉnh/thành phố Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Tây Ninh, Cần Thơ, Cà Mau. Vùng này tập trung vào giữ ngọt, phát triển lúa, cây ăn trái và thủy sản nước ngọt, với mục tiêu cấp nước chủ động cho khoảng 1,5-1,6 triệu héc-ta diện tích đất trồng lúa 2 vụ và 0,4-0,45 triệu héc-ta cây ăn trái.
- Vùng sinh thái ngọt - lợ (khoảng 1,35 triệu héc-ta) là vùng chuyển đổi quan trọng, bao gồm một phần của An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tây Ninh. Vùng này yêu cầu giải pháp thủy lợi linh hoạt để phục vụ các mô hình sản xuất như tôm - lúa.
- Vùng sinh thái mặn (khoảng 0,75 triệu héc-ta) ven biển, thuộc một phần của An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tây Ninh. Vùng này tập trung phục vụ nuôi trồng thủy sản nước mặn, đảm bảo cấp nước chủ động cho diện tích khoảng 0,67 triệu héc-ta nuôi thủy sản nước mặn.
Quy hoạch đã đề xuất giải pháp thủy lợi theo hướng thuận thiên có kiểm soát theo 3 vùng sinh thái, đảm bảo tái cơ cấu các ngành kinh tế, và giữ vững quốc phòng, an ninh, bảo đảm an ninh nguồn nước.
Công trình “không hối tiếc”: đảm bảo chủ động trong mọi tình huống
Quy hoạch ưu tiên đầu tư vào các giải pháp công trình và phi công trình mang tính “không hối tiếc”. Đây là nguyên tắc cốt lõi, nhấn mạnh việc lựa chọn các dự án phù hợp với hiện tại và không mâu thuẫn với tương lai, có khả năng phục vụ đa mục tiêu và tôn trọng quy luật tự nhiên. Mục tiêu là chủ động khai thác, bảo vệ nguồn nước trong mọi tình huống, sẵn sàng ứng phó với trường hợp bất lợi nhất.
Các công trình thủy lợi không còn là “bức tường ngăn cản” mà là công cụ điều tiết thông minh, được đầu tư đồng bộ, khép kín để kiểm soát mặn, hạn chế thiên tai do nước gây ra. Công trình điển hình như hệ thống cống kiểm soát mặn dọc sông Tiền, sông Hậu và các cống cửa sông lớn (như cống Vàm Cỏ, cống Hàm Luông) sẽ phục vụ mô hình sản xuất luân canh linh hoạt.
Bên cạnh đó, việc đảm bảo an ninh nguồn nước sinh hoạt là mục tiêu hàng đầu. Quy hoạch cam kết cấp nước đầy đủ cho khoảng 17 - 18 triệu người và tập trung xây dựng các công trình trữ nước quy mô lớn. Đơn cử, Dự án xây dựng hệ thống công trình trữ ngọt gắn với hạ tầng thủy lợi tại Tứ Giác Long Xuyên có quy mô lên tới 32.500.000m3 cùng với việc cải tạo sông Ba Lai thành hồ trữ nước có dung tích 80.000.000m3, nhằm giải quyết dứt điểm nước sinh hoạt cho người dân nông thôn vùng ảnh hưởng hạn mặn, thiếu nước đến năm 2030.
Kiến nghị trọng tâm triển khai và tầm nhìn phát triển
Để hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược và phát huy tối đa hiệu quả của những công trình “không hối tiếc”, việc triển triển khai Quy hoạch cần phải đồng bộ hóa giữa giải pháp công trình với đổi mới thể chế và quản lý, đặc biệt chú trọng các vấn đề trọng tâm về nguồn lực và công nghệ.
Trước hết, cần đột phá trong cải cách thể chế và quản lý liên vùng: Cần khẩn trương thể chế hóa và chi tiết hóa mô hình quản lý tài nguyên nước theo 3 vùng sinh thái để đảm bảo sự thống nhất giữa quản lý theo lưu vực và quản lý theo lãnh thổ. Kiện toàn tổ chức các đơn vị quản lý vận hành hệ thống thủy lợi liên vùng, đồng thời hoàn thiện và thống nhất Quy trình vận hành các công trình lớn để hài hòa lợi ích giữa các tỉnh. Tăng cường phân cấp trong công tác đầu tư và quản lý hệ thống thủy lợi, ưu tiên khuyến khích xã hội hóa đầu tư các trạm bơm tưới, tiêu quy mô nhỏ.
Thứ hai, phải đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số: Đầu tư mạnh mẽ vào việc xây dựng hệ thống quan trắc, dự báo thông minh và tích hợp cơ sở dữ liệu thủy lợi (độ mặn, mực nước, chất lượng nước) vào Trung tâm dữ liệu vùng, tiến tới vận hành theo thời gian thực và vận hành thông minh. Ưu tiên nghiên cứu các giống thủy sản, cây trồng có khả năng chịu mặn, chịu ngập cao và nghiên cứu các giải pháp phục hồi đáy sông nhằm nâng cao mực nước.
Cuối cùng, cần chú trọng huy động nguồn lực và thích ứng cộng đồng: Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho các công trình có quy mô lớn, phục vụ đa mục tiêu, có tác động liên vùng và đẩy mạnh huy động các nguồn xã hội hóa. Tăng cường giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức người dân về việc trữ nước, sử dụng nước tiết kiệm và phổ biến các mô hình sinh kế đa dạng.
Quy hoạch tổng thể thủy lợi ĐBSCL là một kế hoạch dài hạn với tổng nhu cầu vốn thực hiện khổng lồ, ước tính khoảng 132.807 tỉ đồng. Trong đó, giai đoạn cấp bách đến năm 2030 cần khoảng 69.456 tỉ đồng để triển khai các công trình trọng điểm. Tổng nhu cầu sử dụng đất để triển khai quy hoạch là khoảng 36.389ha.
Để biến khoản đầu tư lịch sử này thành cơ hội kép, thành công cuối cùng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các địa phương, các ngành và các cấp chính quyền. Quy hoạch thủy lợi không chỉ là bản đồ công trình, mà là khẳng định chiến lược về ý chí thích ứng, cam kết đảm bảo an ninh nguồn nước. Vấn đề này đồng thời với phát huy thế mạnh kinh tế nông nghiệp chất lượng cao chỉ có thể đạt được thông qua hành động đồng bộ theo định hướng thuận thiên có kiểm soát, đưa ĐBSCL chủ động hoàn toàn nguồn nước trong mọi tình huống bất lợi đến năm 2050.
Bài, ảnh: HÀ TRIỀU