30/10/2026 - 15:17

Bà Triệu Thị Ngọc Diễm, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 30-10, Quốc hội thảo luận ở hội trường. Bà Triệu Thị Ngọc Diễm, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi).

Bà Triệu Thị Ngọc Diễm phát biểu trong phiên thảo luận ở hội trường sáng 30-10.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) và các tài liệu có liên quan, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm thống nhất với nội dung dự thảo, đồng thời góp ý 5 nội dung cụ thể như sau:

1. Về nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cơ sở: Điều 3 dự thảo quy định các nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cơ sở với các nguyên tắc cơ bản. Các nguyên tắc này là cần thiết; tuy nhiên, để việc thực hiện dân chủ thực sự đi vào đời sống, cần thể hiện rõ hơn yêu cầu gắn quyền tham gia của nhân dân với kết quả thực hiện.

Đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung nguyên tắc theo hướng: thực hiện dân chủ ở cơ sở phải gắn với việc tiếp nhận, xem xét, giải quyết, phản hồi, giải trình và công khai kết quả đối với ý kiến, kiến nghị, phản ánh của nhân dân; việc đánh giá hiệu quả thực hiện dân chủ cần quan tâm đến kết quả giải quyết và mức độ đáp ứng quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, xử lý, phản hồi và công khai kết quả, qua đó tạo cơ sở để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo dõi, giám sát từ khi nhân dân tham gia đến khi vấn đề được giải quyết. Đây cũng là yêu cầu phù hợp với Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 20-7-2026 của Bộ Chính trị về nâng cao trách nhiệm lắng nghe, đối thoại, tiếp thu, giải quyết, giải trình và thực hành dân chủ.

2. Về quyền, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị (tại các Điều 33, 34, 35 và 36 dự thảo).

Liên quan đến những quy định được thể hiện tại các điều trên, đại biểu kiến nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, làm rõ cơ chế để quyền tham gia của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được thực hiện thực chất, nhất là việc theo dõi kết quả sau khi cơ quan, đơn vị quyết định; đồng thời bảo đảm việc tham gia góp ý, kiến nghị, phản ánh, kiểm tra, giám sát được thực hiện đúng quy định, khách quan và phù hợp. Đối với việc sử dụng nhận xét, góp ý của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong đánh giá, xếp loại, đề nghị nghiên cứu quy định rõ việc xem xét, phân loại và sử dụng ý kiến phải bảo đảm khách quan, có căn cứ, phù hợp với nội dung, tính chất của ý kiến và được xác minh khi cần thiết.

3. Về trách nhiệm của người đứng đầu và bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện dân chủ ở cơ sở: khoản 1, Điều 34 và Điều 37 quy định trách nhiệm của người đứng đầu trong xây dựng kế hoạch, tiếp nhận, tổng hợp, phản hồi, giải trình, tiếp thu ý kiến và bảo đảm điều kiện thực hiện kiểm tra, giám sát. Khoản 5, Điều 60 quy định nội dung quản lý nhà nước có việc “ban hành, hướng dẫn bộ tiêu chí đánh giá việc thực hiện dân chủ ở cơ sở”.

Đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu quy định về trách nhiệm của người đứng đầu theo một chu trình thống nhất: gồm tổ chức thực hiện, tiếp nhận, tổng hợp, giải trình, tiếp thu, quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá, thông tin lại kết quả. Đồng thời, nghiên cứu quy định việc đánh giá kết quả thực hiện dân chủ ở cơ sở là một nội dung thực chất trong đánh giá, xếp loại hằng năm, phù hợp với Chỉ thị số 09-CT/TW; bộ tiêu chí cần chú trọng chất lượng và kết quả, mức độ tham gia, tiếp thu, giải quyết, phản hồi, sự hài lòng của người dân và việc khắc phục hạn chế, không thiên về số lượng hội nghị, cuộc họp hoặc hồ sơ và đề nghị nghiên cứu cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia vào quá trình xây dựng, đánh giá và giám sát việc áp dụng bộ tiêu chí.

4. Về hoàn thiện cơ chế thực hiện dân chủ trên nền tảng số: Điều 2 có khái niệm về thực hiện dân chủ ở cơ sở trên nền tảng số; Điều 7 đặt yêu cầu xây dựng, thiết lập nền tảng số, ứng dụng số, cơ sở dữ liệu dùng chung hiện có, số hóa, lưu trữ, bảo mật thông tin liên qua đến thực hiện dân chủ ở cơ sở; Điều 63 giao Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp nhận, tổng hợp góp ý, kiến nghị, phản ánh của nhân dân, giám sát quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của nhân dân.

Đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng hình thành quy trình dân chủ số thống nhất, gồm công khai thông tin, lấy ý kiến, đối thoại, tiếp nhận, phân loại, chuyển xử lý, cập nhật tiến độ, phản hồi, lưu trữ và tra cứu kết quả; bảo đảm liên thông dữ liệu phù hợp, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư. Đồng thời, cần kết hợp phương thức trực tuyến với trực tiếp, bảo đảm người dân có điều kiện tiếp cận công nghệ khác nhau vẫn thực hiện đầy đủ quyền dân chủ.

5. Về phân định trách nhiệm thực hiện dân chủ: Điều 61 dự thảo đã phân định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh và UBND cấp xã; trong đó cấp xã trực tiếp giữ mối liên hệ với nhân dân, xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội cấp xã về thực hiện dân chủ cơ sở.

Đề nghị tiếp tục rà soát toàn bộ dự thảo Luật theo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm giữa cấp tỉnh và cấp xã, phù hợp Điều 11 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 theo định hướng: cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện, đối thoại, tiếp nhận và giải quyết các vấn đề gắn với đời sống nhân dân; cấp tỉnh tập trung định hướng, hướng dẫn, bảo đảm điều kiện, kiểm tra, giám sát. Đối với vụ việc liên quan nhiều cơ quan hoặc vượt thẩm quyền cấp xã, cần xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, người chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý và trách nhiệm thông tin cho người dân; hạn chế việc người dân phải tự liên hệ nhiều đầu mối.

PV (lược ghi)

Chia sẻ bài viết