NHÓM PV KINH TẾ
Thực hiện Nghị quyết 21/NQ-TW (ngày 20/1/2003) của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế- xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thời kỳ 2001- 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 14/2003/CT-TTg đề ra mục tiêu phát triển ĐBSCL theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần xuất khẩu... Trong giai đoạn 2006- 2010, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của các tỉnh, thành vùng đều đạt trên 11%. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa vùng ĐBSCL đã có những bước tiến vượt bậc.
Dịp đầu xuân, lãnh đạo các tỉnh, thành vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL và các nhà khoa học đã chia sẻ với Báo Cần Thơ về những thành tựu phát triển kinh tế- xã hội và định hướng phát triển bền vững trong tương lai.
ĐỒNG CHÍ SƠN SONG SƠN, PHÓ TRƯỞNG BAN THƯỜNG TRỰC BAN CHỈ ĐẠO TÂY NAM BỘ:
ĐBSCL có nhiều bước tiến mới trong phát triển
Sau 7 năm thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, kinh tế vùng ĐBSCL tiếp tục tăng trưởng mạnh; hạ tầng giao thông, giáo dục - đào tạo, y tế, thủy lợi trong vùng được cải thiện rất đáng kể. Không chỉ vậy, an ninh chính trị được giữ vững, nhiều vấn đề xã hội tiếp tục được tập trung giải quyết; nhất là công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, chăm lo gia đình chính sách, nhà ở cho người nghèo.
Tính bình quân 5 năm (2006 - 2010), tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn vùng ước đạt 11,88%/năm. So với năm 2005, nhiều chỉ tiêu kinh tế trong năm 2010 tăng trưởng cao, như: GDP bình quân đầu người đạt 18 triệu đồng/người/năm, tương đương 1.059 USD (tỷ giá 16.990 đồng/USD), tăng trên 1,1 lần; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 6,5 tỉ USD; tăng 1,18 lần; tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội ước 284.000 tỉ đồng, tăng 2,06 lần; tổng thu ngân sách (thu nội địa) ước đạt 20.000 tỉ đồng, tăng 38%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 155.000 tỉ đồng, tăng 2,08 lần. Thời gian qua, sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL liên tục phát triển và ổn định theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với biến động của thị trường thế giới, góp phần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp. Quá trình đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp ngày càng tăng. Đặc biệt, trong quá trình phát triển, vùng lúa gạo ĐBSCL vẫn là kho dự trữ lương thực vững chắc cho quốc gia. Năm 2010, sản lượng lúa toàn vùng ước đạt khoảng 21,7 triệu tấn; sản lượng thủy hải sản đạt trên 2,8 triệu tấn, tăng trên 1 triệu tấn so năm 2005...
Những năm qua, vùng ĐBSCL được Chính phủ tập trung đầu tư rất lớn, đặc biệt là hạ tầng giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế, cùng nhiều cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ khác. Hằng năm, các tỉnh, thành trong vùng luân phiên tổ chức Diễn đàn kinh tế ĐBSCL để xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch. Nhiều công trình trọng điểm do Trung ương đầu tư đã và sẽ hoàn thành, đưa vào sử dụng như: Nhà máy điện Cà Mau 1, 2; Nhiệt điện Ô Môn 1, 2; mở rộng QL 1A (đoạn TP Hồ Chí Minh - Trung Lương- Cần Thơ); tuyến Nam sông Hậu; Quản Lộ Phụng Hiệp; đường thủy từ TP Hồ Chí Minh đi Cà Mau và Kiên Giang; cầu Cần Thơ; hệ thống cầu trên Quốc lộ 1A từ TP Hồ Chí Minh đến Năm Căn (Cà Mau); sân bay Cần Thơ (giai đoạn 2); cảng Cái Cui (giai đoạn 1)... Nhiều công trình đang tiếp tục được đẩy nhanh tiến độ như: kênh Quan Chánh Bố; tuyến N1, N2... Đây là những thuận lợi lớn để vùng ĐBSCL thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội thời gian tới.
ĐỒNG CHÍ TRẦN THANH MẪN, CHỦ TỊCH UBND TP CẦN THƠ:
Đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ kết nối toàn vùng
 |
|
|
Năm 2010, tăng trưởng kinh tế TP Cần Thơ đạt 15,03%, các ngành, các lĩnh vực kinh tế then chốt đều duy trì nhịp độ phát triển, công tác cải cách hành chính tiến bộ đáng kể. Báo cáo sơ kết 4 năm thực hiện Nghị Quyết 45/NQ-TW về xây dựng và phát triển TP Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã khẳng định TP Cần Thơ cơ bản khắc phục được những yếu kém trong quá trình phát triển. Với vai trò trung tâm vùng, TP Cần Thơ đang tập trung khai thác tốt những thế mạnh về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Sớm ký kết với các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm bản thỏa thuận hợp tác phát triển kinh tế - xã hội toàn diện trên các lĩnh vực, trên cơ sở khai thác hiệu quả các cơ chế chính sách phát triển vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL. Thành phố đẩy mạnh cải cách hành chính để thu hút nhiều nguồn vốn từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Tập trung đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu phát triển; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương, các địa phương trong vùng thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội và Đề án thu hút đầu tư vùng ĐBSCL...
Những năm qua, ngành công nghiệp chế biến thủy sản đã có những bước phát triển đáng ghi nhận với khoảng 30 doanh nghiệp, tổng công suất ước đạt 450.000 tấn sản phẩm/năm, đóng góp khoảng 35-40% tổng giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp và trên 45% kim ngạch xuất khẩu của thành phố. Thành phố đã phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP Cần Thơ giai đoạn 2011 - 2015, tầm nhìn đến năm 2020”. Theo đó, phấn đấu phát triển từ 30 - 50 sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố. Tổng giá trị đóng góp của các sản phẩm chủ lực từ 10-15% tổng sản phẩm nội địa của thành phố và đến năm 2020 đạt trên 20%. Ngoài ra, thành phố cũng đặc biệt quan tâm đối với ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp điện tử, năng lượng, vật liệu mới. Trong mời gọi đầu tư, thành phố ưu tiên dự án công nghệ cao, ít tiêu hao năng lượng, nhằm phục vụ tốt cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
 |
|
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của các tỉnh, thành vùng ĐBSCL giai đoạn 2006- 2010 đạt trên 11%. Năm 2010, GDP bình quân đầu người vùng ĐBSCL đạt 1.050 USD.
Ảnh: K.XUÂN-LÊ VŨ-A.KHOA |
Trong quá trình phát triển, TP Cần Thơ luôn đề ra những chủ trương khuyến khích phát triển nguồn năng lượng mới, sạch. Thành phố đã phê duyệt xây dựng Nhà máy Đồng phát Nhiệt điện Đình Hải tại khu công nghiệp Trà Nóc (công suất 18MW, dự kiến vận hành năm 2011-2015); thành lập Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP Cần Thơ để nghiên cứu phát triển nguồn năng lượng mới, sử dụng năng lượng tiết kiệm... Đặc biệt, Trung tâm Nhiệt điện Ô Môn với tổ hợp 5 Nhà máy điện, công suất 3.570 MW cùng với Nhà máy khí điện đạm Cà Mau, Trung tâm Nhiệt điện Kiên Lương (Kiên Giang) sẽ đáp ứng nhu cầu sử dụng năng lượng cho toàn vùng. Thành phố sẽ cùng với các địa phương trong vùng khai thác hiệu quả những tiềm năng, lợi thế đưa ĐBSCL phát triển.
ĐỒNG CHÍ PHẠM VŨ HỒNG, PHÓ CHỦ TỊCH UBND TỈNH KIÊN GIANG:
Thương mại - dịch vụ - du lịch là khâu đột phá
Theo Quyết định 492/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL, định hướng đến năm 2020, đột phá điểm mà Kiên Giang đang tập trung mọi nguồn đầu tư khai thác, khẳng định vai trò của tỉnh kinh tế trọng điểm là: thương mại - dịch vụ - du lịch.
Thời gian qua, những tiềm năng, thế mạnh của tỉnh đang được khai thác, phát huy tốt. Giai đoạn 2006-2010, với hàng loạt công trình hoàn thành đưa vào hoạt động. Cùng với việc thu hút thêm nhiều nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng đã tạo thêm động lực thúc đẩy sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động... Năm 2011, Kiên Giang sẽ tập trung phát triển giao thông, nhất là hạ tầng giao thông trên đảo Phú Quốc, sân bay Phú Quốc, cảng biển và hệ thống đường bộ xung quanh đảo Phú Quốc. Tăng đầu tư giao thông nông thôn gấp 2 lần so với năm 2010 (khoảng 150 tỉ đồng) và tạo đà tăng tốc đầu tư vào lĩnh vực này từ nay đến 2015. Kiên Giang xác định thế mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản và đang được doanh nghiệp đầu tư mạnh. Trên lĩnh vực thương mại- dịch vụ và du lịch, tỉnh sẽ đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án ở vùng du lịch trọng điểm như: Hà Tiên, Kiên Lương, Phú Quốc, Hòn Đất, U Minh Thượng, các vùng phụ cận. Kiên Giang đã ban hành những chính sách đặc thù ưu đãi riêng cho từng vùng, như đầu tư vào Phú Quốc sẽ có ưu đãi riêng cho phát triển biển đảo, hoặc vùng đặc biệt khó khăn thì có cơ chế riêng, chính sách thu hút nguồn nhân lực về xã, huyện, tỉnh cũng có những cơ chế ưu đãi tương tự.
Mặc dù có nhiều thuận lợi, nhưng thách thức cũng không nhỏ trong quá trình phát triển của Kiên Giang trong giai đoạn mới. Năm 2011, đòi hỏi các ngành, các cấp nỗ lực chủ động khắc phục khó khăn, nâng cao hiệu quả điều hành của bộ máy Nhà nước, quyết tâm hoàn thành thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2011; tạo tiền đề thuận lợi cho phát triển cả giai đoạn 2011-2015. Từ nay đến năm 2015, Kiên Giang tập trung tăng dần tỷ trọng thương mại dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông- lâm nghiệp. Điển hình là các khu đô thị mới lấn biển, khu đô thị, khu trung tâm thương mại ở các huyện, thị xã phát triển hài hòa, đồng bộ, đặc biệt kỳ vọng vào đảo ngọc Phú Quốc khi sân bay quốc tế hoạt động vào năm 2012. Với định hướng và những bước đi khá căn cơ này, tôi tin rằng từ nay đến năm 2015, Kiên Giang sẽ từng bước khẳng định vị thế của mình.
ĐỒNG CHÍ DƯƠNG THANH BÌNH, BÍ THƯ TỈNH ỦY CÀ MAU:
Huy động tối đa nguồn lực để phát triển kinh tế
Cà Mau đã chủ động xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển đồng bộ trên các lĩnh vực bằng việc triển khai, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2010 - 2015, định hướng đến năm 2020. Tỉnh đã có những định hướng phát triển phù hợp với xu thế phát triển chung, chuyển dịch nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp hóa, tiến đến ngành sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng yêu cầu chất lượng, nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm. Đồng thời, tăng cường mối liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp và nông dân, hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản... Phấn đấu đến năm 2015, diện tích nuôi tôm công nghiệp tỉnh đạt 10.000ha.
Cà Mau là tỉnh có hệ thống sông ngòi chằng chịt, kết cấu hạ tầng giao thông còn nhiều khó khăn. Tỉnh xác định sẽ tạo bước đột phá về phát triển kết cấu hạ tầng, huy động tối đa nguồn vốn ngân sách và xã hội hóa để tập trung đầu tư phát triển hạ tầng, hệ thống thủy lợi, mạng lưới giao thông thông suốt đến trung tâm xã, như: nâng cấp sân bay Cà Mau, cảng Năm Căn, xây dựng hoàn thành đề án 1.588 cây cầu giao thông nông thôn, cải tạo và nâng cấp một số tuyến đường bộ, thủy quan trọng kết nối giao thông với các tỉnh trong vùng. Đồng thời, tăng cường xây dựng hạ tầng và thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp: Khánh An, Hòa Trung, Năm Căn, Sông Đốc, xây dựng khu kinh tế Năm Căn. Phối hợp với Tổng công ty Dầu khí Việt Nam xây dựng công trình khí điện đạm Cà Mau với công nghệ sử dụng nguồn khí từ các mỏ khí tự nhiên tạo ra điện và phân bón. Đây là một trong những công trình năng lượng lớn của cả nước, gồm 2 nhà máy điện Cà Mau 1 và 2 với tổng công suất 1.500MW, có khả năng cung cấp trên 9 tỉ KW/h điện mỗi năm; nhà máy đạm cũng đang được tiến hành xây dựng, công suất ban đầu khoảng 800.000 tấn/năm, góp phần phát triển công nghiệp năng lượng, hóa chất cho cả vùng.
Song song đó, tỉnh sẽ tập trung bảo tồn và phát triển hệ sinh thái đặc trưng của khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau, vùng ngập mặn lớn nhất Việt Nam và thế giới. Vừa bảo tồn vừa phát triển bền vững hệ sinh thái khu dự trữ sinh quyển, kết hợp với khai thác tiềm năng du lịch sinh thái ở Mũi Cà Mau - điểm địa đầu cực Nam của Tổ quốc. Tỉnh Cà Mau hội đủ thế mạnh tiềm năng để kết hợp cùng khu vực Tây Nam Bộ trở thành một vùng du lịch trọng điểm của đất nước.
TIẾN SĨ LÊ VĂN BẢNH, VIỆN TRƯỞNG VIỆN LÚA ĐBSCL:
Liên kết “4 nhà” nâng cao chuỗi giá trị hạt gạo
ĐBSCL đảm nhận vai trò an ninh lương thực quốc gia, nhưng cái khó trong sản xuất nông nghiệp hiện nay ở ĐBSCL là nhỏ lẻ, manh mún, còn “tự sản tự tiêu”. Theo định hướng của Bộ NN&PTNT từ nay đến năm 2020, sản lượng lúa vùng ĐBSCL giữ ở mức 21 triệu tấn. Hiện nay, tốc độ đô thị hóa làm mất đất sản xuất, cạnh tranh khốc liệt thị trường, rủi ro cao do dịch bệnh và thay đổi khí hậu, nên cần có giải pháp thích hợp trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo. Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, Viện Lúa ĐBSCL phối hợp cùng Trường Đại học Cần Thơ thực hiện đề án “Giải pháp sản xuất và tiêu thụ lúa gạo thông qua liên kết vùng và sự tham gia của 4 nhà” góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 26 và gia tăng thu nhập cho người nông dân trồng lúa.
Trong điều kiện biến đổi khí hậu, các tỉnh, thành vùng ĐBSCL cần liên kết lại trong sản xuất, liên kết trên từng tiểu vùng, làm liên hoàn để chống lũ, làm đê bao, xử lý môi trường... Liên kết “4 nhà”, trong đó, nhà khoa học phải liên kết với nhau để nghiên cứu ra giống tốt nhất, năng suất cao đưa ra dân sản xuất. Nông dân liên kết hình thành tổ hợp tác, hợp tác xã tạo nên vùng chuyên canh, hoặc thành lập công ty nông nghiệp (nông dân hùn vốn và làm chủ), sản xuất theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải đưa ra dự báo thị trường, ký hợp đồng bao tiêu với nông dân và đầu tư vật tư nông nghiệp cho nông dân; xây dựng kho tàng để nâng cao chuỗi giá trị hạt gạo. Nhà nước phải quy hoạch vùng sản xuất, đào tạo nhân lực cho nông thôn, hỗ trợ cho người trồng lúa để giữ vững vai trò an ninh lương thực quốc gia. Lâu nay, cây lúa đóng vai trò chính trị quan trọng hơn là kinh tế, nếu thiên tai, mất mùa, các quốc gia sẽ tạm dừng xuất khẩu gạo, mở kho cứu trợ.
Liên kết “4 nhà” trong sản xuất và tiêu thụ, ai cũng làm tròn nhiệm vụ của mình sẽ đảm bảo an ninh lương thực, xây dựng thương hiệu hạt gạo. Hiện nay, gạo Việt Nam xuất khẩu chỉ là gạo trắng (5%, 10%, 15%... tấm) và sản lượng xuất khẩu năm nay thì đã ký hợp đồng từ cuối năm trước, chứ không có thương hiệu cụ thể như gạo Thái Lan, Ấn Độ, Nhật Bản... Nhiều mô hình GAP, VietGAP, Global GAP thất bại là do không có sự nâng đỡ của doanh nghiệp. Nếu làm VietGAP phải đáp ứng 7 tiêu chí, nhưng rất khó có nông dân nào đáp ứng ngay tất cả những tiêu chí này. Lẽ đó, phải hướng dẫn nông dân đi dần lên theo mô hình bậc thang, phải bắt đầu từ cái nông dân đang có, chứ không thể áp đặt các tiêu chí mình đặt ra. Việc cần làm hiện tại là xây dựng các mô hình điểm và nhân rộng, đào tạo tổng thể để nông dân trở thành những ông chủ thực thụ trên đồng ruộng của mình.
ĐỒNG CHÍ LÂM MINH CHIẾU, CHỦ TỊCH UBND TỈNH AN GIANG:
Phát huy tiềm lực và thế mạnh, duy trì đà tăng trưởng
Năm 2010, An Giang đã thu hút trên 64 dự án đầu tư trong nước với vốn đăng ký trên 6.700 tỉ đồng, trong đó, cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 66 dự án với tổng vốn đầu tư trên 3.900 tỉ đồng. Riêng đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút 5 dự án với vốn đăng ký hơn 65 triệu USD. Nhiều công trình, dự án quan trọng trên toàn địa bàn được khởi công hoặc đã khánh thành đưa vào sử dụng như: Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang với quy mô 600 giường, Bệnh viện đa khoa khu vực Châu Đốc quy mô 400 giường, cầu Nguyễn Trung Trực trên tuyến quốc lộ 91, công trình xây lắp khu đào tạo của Trường Đại học An Giang... đã góp phần hoàn thiện dần kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh.
Năm qua, An Giang đã đạt thắng lợi toàn diện trong sản xuất nông nghiệp về diện tích, năng suất và sản lượng, riêng diện tích lúa đạt gần 590.000 ha, năng suất bình quân 6,25 tấn/ha, sản lượng đạt gần 3,7 triệu tấn. Ngành nuôi trồng và chế biến thủy sản gặp không ít khó khăn, nhưng các doanh nghiệp trong ngành chế biến thủy sản đã đầu tư đổi mới công nghệ, xây dựng vùng nguyên liệu đảm bảo nguồn nguyên liệu cả về sản lượng và chất lượng. Ngành công nghiệp cũng tạo được bước đột phá, giá trị sản xuất công nghiệp trong năm 2010 đạt 6.700 tỉ đồng, tăng khoảng 19% so với 2009. Các khu công nghiệp như: Bình Long, Bình Hòa, Xuân Tô đến nay cơ bản hoàn thành các hạng mục và đã có những nhà đầu tư đến thuê đất sản xuất, kinh doanh trên lĩnh vực chế biến thủy sản, thức ăn chăn nuôi, đúc cán thép, sản xuất bê tông... Thương mại nội địa tiếp tục phát triển với tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt trên 38.000 tỉ đồng, tăng 18,6% so năm 2009. Đặc biệt, kinh tế mậu biên tiếp tục phát huy những thế mạnh; tổng giá trị xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu biên giới trên địa bàn đạt khoảng 1.053 triệu USD, tăng 51% so với 2009. Song song đó, tỉnh đã tiến hành các dự án đầu tư mở rộng khu thương mại- dịch vụ vui chơi giải trí tại cửa khẩu Tịnh Biên, cửa khẩu Vĩnh Xương. Riêng khu thương mại Tịnh Biên có thêm 15 doanh nghiệp đăng ký hoạt động với tổng vốn 163 tỉ đồng, bình quân mỗi tháng có trên 150.000 lượt khách đến mua sắm.
Là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL, những kết quả và thành tựu đạt được trong năm 2010 sẽ là tiền đề để An Giang phát triển trong những năm tiếp theo. Tỉnh sẽ phát huy mạnh mẽ các thế mạnh, tiềm lực của địa phương, trong đó ngành nông nghiệp sản xuất lúa chất lượng cao, nuôi trồng và chế biến thủy sản và kinh tế mậu biên sẽ tiếp tục là mũi nhọn phát triển.
PGS.TS NGUYỄN MINH CHÂU, VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY ĂN QUẢ MIỀN NAM:
Xây dựng vùng chuyên canh cây ăn trái để phát triển bền vững
 |
|
|
ĐSBCL có điều kiện thuận lợi để phát triển cây ăn trái, đặc biệt là các loại quả nhiệt đới đặc sản... Chính nhờ sản xuất theo quy trình GAP, Global GAP... mà xuất khẩu trái cây tăng trung bình 30 triệu USD/năm trong 5 năm qua. Trái cây ĐBSCL rất nhiều chủng loại ngon như: xoài cát Hòa Lộc, bưởi Da xanh, Vú sữa Lò Rèn, sầu riêng Ri6, măng cụt... đủ sức cạnh tranh quốc tế, nhưng không có vùng chuyên canh, không có nhà máy đóng gói nào đạt tiêu chuẩn. Chiếm khoảng 38% diện tích trồng cây ăn trái cả nước, nhưng chưa phát triển đúng với tiềm năng, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch trái cây khá cao, đến 20- 25%. Để đưa trái cây ĐBSCL phát triển bền vững hơn, Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, Trường Đại học Cần Thơ đã làm việc với các địa phương trong vùng xây dựng Dự án “Nâng cao năng lực sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả ở ĐBSCL trên cơ sở liên kết vùng với sự tham gia của 4 nhà” để thực hiện Nghị quyết 26 (giai đoạn 2011- 2015) tại 11 tỉnh, thành trong vùng. Viện Nghiên cứu Cây ăn quả phụ trách 6 tỉnh phía Bắc Sông Hậu, gồm: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh. Trường Đại học Cần Thơ phụ trách 5 tỉnh, thành phía Nam Sông Hậu, gồm: Cần Thơ, Sóc Trăng, Hậu Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu. Dự án do Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, Bộ NN&PTNT chủ trì và đã được Chính phủ chấp thuận chủ trương.
Song, việc xây dựng vùng chuyên canh cây ăn trái vẫn là thách thức lớn cho vùng. Hiện nay, chỉ có khóm và thanh long là có vùng chuyên canh thực thụ, nhưng diện tích còn khiêm tốn. Còn xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn, bưởi Năm Roi... nói là có vùng chuyên canh, nhưng thực ra là trong vườn nông dân còn trồng nhiều loại cây khác nữa. Vùng chuyên canh chỉ trồng một cây duy nhất, nhằm áp dụng quy trình sản xuất đồng nhất và kiểm soát được đầu vào, đầu ra sản phẩm. Sản xuất thì Nhà nước phải vào cuộc, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nhà máy đóng gói, bao tiêu sản phẩm đầu ra cho nông dân và phải hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho doanh nghiệp giai đoạn đầu để họ đầu tư. Các nhà khoa học chịu trách nhiệm làm ra giống tốt, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho nông dân.
Cần phải hỗ trợ nông dân sản xuất theo tiêu chuẩn Global GAP, đây là con đường bền vững cho phát triển và tiêu thụ trái cây vùng ĐBSCL. Trong giai đoạn 2011-2020, Dự án sẽ hỗ trợ thực hiện quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu cây ăn trái ĐBSCL, xây dựng 20 mô hình nông thôn mới (diện tích vài trăm ha/mô hình trở lên) và 20 nhà máy đóng gói. Mỗi tỉnh chọn 1-3 cây ăn trái đặc sản chủ lực để quy hoạch, đầu tư ngân sách và chỉ đạo thực hiện trọn gói từ sản xuất cây giống đến tiêu thụ. Dự án thành công sẽ góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 26.