Tự hào 80 năm truyền thống vẻ vang của Quốc hội Việt Nam, hôm nay, mỗi cử tri cả nước cầm trên tay lá phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Lá phiếu - niềm tin, trách nhiệm và khát vọng xây dựng đất nước phát triển bền vững, tô thắm vinh quang Quốc hội và HĐND các cấp.

Ông Đồng Văn Thanh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch Ủy ban Bầu cử TP Cần Thơ, và các đại biểu, tham quan trưng bày chuyên đề về bầu cử với chủ đề “Ý Đảng - Lòng Dân”. Ảnh: DUY KHÔI
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giữa muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã quyết định tổ chức Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 6-1-1946. Đây là sự kiện trọng đại trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Lần đầu tiên, toàn dân ta được quyền làm chủ, tự do lựa chọn, bầu ra những người có đức, có tài, xứng đáng thay mặt nhân dân chung tay lo việc chung của đất nước.
Nhân ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031, cùng điểm lại những dấu mốc quan trọng của Quốc hội Việt Nam.
Quốc dân Đại hội Tân Trào
Quốc dân Đại hội Tân Trào được coi là tiền thân của Quốc hội Việt Nam. Ngày 16-8-1945, tại đình Tân Trào (Tuyên Quang), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh đã khai mạc Đại hội đại biểu Quốc dân (còn gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào). Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc - Trung - Nam, đại diện các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan, Lào để bàn kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về nhân dân.
Đại hội đã quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ có ngôi sao vàng 5 cánh ở giữa, Quốc ca là bài “Tiến quân ca”.
Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
Ngày 6-1-1946, toàn dân đi bỏ phiếu trong Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta. Tổng số cử tri đi bỏ phiếu đạt tỷ lệ 89%, trừ một số nơi phải bầu bổ sung còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cuộc Tổng tuyển cử đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau; 43% đại biểu không đảng phái; 87% đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng; 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu dân tộc thiểu số. Quốc hội khóa I tổ chức 12 kỳ họp trong 14 năm và xem xét, thông qua bản Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959, 16 đạo luật và 50 nghị quyết.
Quốc hội khóa II (1960-1964)
Cuộc bầu cử Quốc hội khóa II được tổ chức ngày 8-5-1960. Tổng số 453 đại biểu, trong đó có 91 đại biểu miền Nam lưu nhiệm. Đây là nhiệm kỳ đầu tiên Nhà nước và nhân dân đi vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân theo đường lối chiến lược do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra. Nhiệm kỳ Quốc hội là 4 năm, có 8 kỳ họp và thông qua 6 đạo luật quan trọng về tổ chức của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 9 pháp lệnh.
Quốc hội khóa III (1964-1971)
Quốc hội khóa II tổ chức bầu ngày 26-4-1964. Có tổng số 453 đại biểu, trong đó có 87 đại biểu Quốc hội khóa I thuộc các tỉnh miền Nam được lưu nhiệm. Nhiệm kỳ khóa III của Quốc hội hoạt động trong thời kỳ chiến tranh, nên kéo dài trong 7 năm, với 7 kỳ họp; Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp 95 phiên, thông qua nhiều nghị quyết về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, đối ngoại, về tổ chức hành chính, về nhân sự phục vụ sự nghiệp xây dựng miền Bắc, phục vụ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Quốc hội khóa IV (1971-1975)
Bầu cử Quốc hội khóa IV được tổ chức ngày 11-4-1971, với tổng số 420 đại biểu. Quốc hội khóa IV họp 5 kỳ trong 4 năm. Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp 53 phiên và đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu của các kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế; phê chuẩn dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm, góp phần quan trọng vào việc củng cố và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sức mạnh để đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1973).
Quốc hội khóa V (1975-1976)
Được tổ chức bầu ngày 6-4-1975, Quốc hội khóa V có tổng số 424 đại biểu. Quốc hội khóa V ra đời trong bối cảnh miền Nam vừa mới giải phóng và hoạt động chưa đầy 2 năm, họp 2 kỳ; Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp 10 phiên, đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước. Đặc biệt, Quốc hội đã góp phần quan trọng trong việc thống nhất nước nhà về mặt nhà nước.
Quốc hội khóa VI (1976-1981)
Bầu cử Quốc hội khóa VI được tổ chức ngày 25-4-1976, là Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất, có tổng số 492 đại biểu. Quốc hội quyết định đổi tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quy định Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca; chính thức đổi tên TP Sài Gòn - Gia Định là TP Hồ Chí Minh; quy định Thủ đô của nước Việt Nam thống nhất là Hà Nội. Quốc hội khóa VI hoạt động trong 5 năm, họp 7 kỳ. Kỳ họp thứ 7 (tháng 12-1980), Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Hiến pháp 1980.
Quốc hội khóa VII (1981-1987)
Tổ chức bầu cử vào ngày 26-4-1981, Quốc hội khóa VII có tổng số 496 đại biểu. Quốc hội khóa VII tổ chức 12 kỳ họp và ban hành 10 đạo luật, 35 nghị quyết. Hội đồng Nhà nước ban hành 15 pháp lệnh, Quốc hội đã triển khai thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, như: thành lập các cơ quan nhà nước ở Trung ương; thông qua các nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm; quyết định các vấn đề cử và miễn nhiệm một số thành viên Hội đồng Bộ trưởng...
Quốc hội khóa VIII (1987-1992)
Bầu cử Quốc hội khóa VIII diễn ra vào ngày 19-4-1987. Quốc hội khóa VIII có 496 đại biểu. Đây là Quốc hội của giai đoạn đầu sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước. Nhiệm kỳ này Quốc hội họp 11 kỳ và thông qua 2 bộ luật, 25 đạo luật; Hội đồng Nhà nước đã ban hành 39 pháp lệnh. Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa VIII xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 11 (năm 1992).
Quốc hội khóa IX (1992-1997)
Quốc hội khóa IX được bầu ngày 19-7-1992, với tổng số 395 đại biểu. Quốc hội khóa IX hoạt động theo quy định của Hiến pháp 1992, trong đó có vai trò quan trọng về việc thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 do Đại hội lần thứ VII của Đảng đề ra. Quốc hội khóa IX tiến hành 11 kỳ họp và ban hành 36 luật, bộ luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 43 pháp lệnh.
Quốc hội khóa X (1997-2002)
Bầu cử Quốc hội khóa X diễn ra vào ngày 20-7-1997. Quốc hội khóa X có tổng số 450 đại biểu. Quốc hội khóa X tiến hành 11 kỳ họp và ban hành 1 bộ luật, 31 luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 39 pháp lệnh. Nổi bật của kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, nhằm thể chế hóa đường lối của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng.
Quốc hội khóa XI (2002-2007)
Tổ chức bầu ngày 19-5-2002, Quốc hội khóa XI có tổng số 498 đại biểu. Trong nhiệm kỳ này, số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách đã tăng lên đáng kể. Có 120 đại biểu (chiếm gần 25% tổng số đại biểu Quốc hội) hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và 64 đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Quốc hội đã ban hành 84 luật, bộ luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 31 pháp lệnh.
Quốc hội khóa XII (2007-2011)
Quốc hội khóa XII được bầu ngày 20-5-2007, với tổng số 493 đại biểu. So với nhiệm kỳ trước, số lượng các Ủy ban của Quốc hội khóa XII tăng lên thành 9 Ủy ban với việc Quốc hội thành lập mới Ủy ban Tư pháp, tách Ủy ban Kinh tế - Ngân sách thành Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính, Ngân sách. Số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cũng được tăng cường với 145 đại biểu, chiếm 29,41% tổng số đại biểu Quốc hội. Trong nhiệm kỳ 4 năm, Quốc hội khóa XII đã ban hành 68 luật, 12 nghị quyết; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 13 pháp lệnh và 7 nghị quyết.
Quốc hội khóa XIII (2011-2016)
Cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII được tổ chức vào ngày 22-5-2011. Đây là lần đầu tiên cử tri cả nước tham gia cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu HĐND các cấp trong cùng một ngày với quy mô lớn. Cuộc bầu cử đã thành công tốt đẹp với 99,51% cử tri đi bỏ phiếu, bầu ra 500 đại biểu Quốc hội tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quốc hội khóa XIII đánh dấu mốc lịch sử khi lần đầu tiên tiến hành lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
Quốc hội khóa XIV (2016-2021)
Ngày 22-5-2016, 99,35% cử tri của cả nước đã đi bỏ phiếu bầu ra 494 đại biểu của Quốc hội khóa XIV. Nhiệm kỳ này, số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách đạt tỷ lệ 34,91%, cao nhất so với các nhiệm kỳ Quốc hội trước đó.
Quốc hội khóa XV (2021-2026)
Cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV được tổ chức vào ngày 23-5-2021, trong bối cảnh bùng phát dịch bệnh COVID-19. Tuy nhiên, gần 70 triệu cử tri cả nước đã tham gia bỏ phiếu, đạt tỷ lệ 99,6% - tỷ lệ cao nhất từ trước đến nay. Qua đó, bầu ra 499 đại biểu Quốc hội đại diện cho các tầng lớp nhân dân, thành phần xã hội.
Quốc hội khóa XVI (2026-2031)
Hôm nay, ngày 15-3-2026, cử tri cả nước sẽ hân hoan đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
DANH SÁCH CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẦN THƠ QUA CÁC THỜI KỲ (TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY)


(Nguồn: Lịch sử Đảng bộ thành phố Cần Thơ, tập IV (1975-2010); Văn phòng Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ)
DUY KHÔI (Tổng hợp)