Bài 2: Quân dân Tây Nam Bộ "chia lửa" với Điện Biên Phủ
 |
|
Ông Trần Thâu (CCB quận Ninh Kiều) - người đã tham gia nhiều trận đánh cùng Tiểu đoàn 406 giai đoạn 1953-1954. |
Theo kế hoạch Nava của Pháp ở Đông Dương, địch ra sức củng cố, tăng cường quân ngụy ở miền Nam để có thể tập trung xây dựng một đội quân cơ động lớn, thiện chiến tại miền Bắc nhằm đánh trận quyết định, kết thúc chiến tranh hoặc tạo lợi thế trên bàn đàm phán với ta. Vì vậy, những năm 1953-1954, ở Tây Nam Bộ, thực dân Pháp liên tục lấn chiếm vùng giải phóng, tăng cường bắt lính, tận thu lúa gạo
để phục vụ cho chiến trường chính và tăng cường kiểm soát Nam Bộ. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Phân liên khu Tây Nam đã yêu cầu các đơn vị vũ trang đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công kết hợp với địch vận, dân vận
nhằm phá vỡ thế chủ động tấn công của địch. Thắng lợi của quân dân ta trên chiến trường Tây Nam bộ cùng các chiến trường trên cả nước đã góp phần hình thành thế trận phối hợp tuyệt vời với Điện Biên Phủ.
Thắng như chẻ tre
Trong giai đoạn 1953-1954, các đơn vị vũ trang Tây Nam Bộ đã đánh nhiều trận nhằm tiêu diệt sinh lực địch. Bên cạnh đó, các đơn vị cũng tiến hành chống càn trước những cuộc lấn chiếm của địch; tăng cường võ trang tuyên truyền trong quần chúng nhân dân. Thiếu tướng Trần Văn Niên, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 9, cho biết: "Nếu thực dân Pháp không mở rộng được địa bàn, không bắt được lính, không có lương thực thì không thể nào đứng vững tại Nam Bộ cũng như chi viện cho Điện Biên Phủ. Vì vậy, đơn vị của chúng tôi được lệnh phải làm suy yếu sức mạnh của Pháp, bằng mọi cách". Năm 1953, Thiếu tướng Trần Văn Niên chiến đấu tại Đại đội Trợ chiến đặc công 4053 Tiểu đoàn 410 anh hùng. Lúc này, ở miền Tây Nam Bộ, thực dân Pháp đẩy mạnh lấn chiếm vùng giải phóng và thực hiện chiến tranh tâm lý nên gây cho ta nhiều khó khăn. Chẳng hạn ở Cần Thơ chỉ còn 19 xã giải phóng, 24 xã du kích trên tổng số 76 xã. Tỉnh Sóc Trăng chỉ còn 19 xã giải phóng, 15 xã du kích trên tổng số 67 xã. Nhằm đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, đẩy mạnh phong trào tiến công, tác chiến kết hợp địch vận, Bộ Tư lệnh Phân liên khu Tây Nam đã giao các Tiểu đoàn chủ lực, như: 307, 308, 410
tiến đánh địch ở vùng tạm chiếm, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, chống địch càn quét lấn chiếm.
Tham gia nhiều trận đánh trong giai đoạn 1953-1954 nhưng Thiếu tướng Trần Văn Niên nhớ nhất là trận chiếm đồn Giai Xuân (Phong Điền, Cần Thơ) vào năm 1953. Đồn Giai Xuân là đồn cấp đại đội. Từ năm 1949 ta đã bố trí được một nội ứng là ông Lê Phước Biện. Sau khi bắt liên lạc được với cơ sở, kiểm tra nắm tình hình nội ứng, Tiểu đoàn 410 quyết định đánh đồn Giai Xuân. Đúng giờ đã hiệp đồng, Tiểu đoàn 410 tiến vào đánh chiếm đồn. Ở trong đồn, ông Lê Phước Biện bắn hạ tên đồn trưởng và 3 lính có ý định kháng cự, rồi phát loa kêu gọi binh lính địch đầu hàng, giao súng. Nhờ có nội ứng và dùng biện pháp binh vận hiệu quả, Tiểu đoàn 410 đã chiếm được đồn Giai Xuân và hàng chục chốt gác xung quanh trong chớp mắt, quân ta không ai thương vong.

Thiếu tướng Trần Văn Niên (bìa phải), nguyên Phó Tư lệnh QK 9, chia sẻ kỷ niệm tại chương trình giao lưu "Điện Biên Phủ - Thiên anh hùng ca thời đại Hồ Chí Minh". Ảnh: PHẠM TRUNG
Cuối năm 1953, tổ đặc công của Tiểu đoàn 410 còn đánh một trận tại Vị Thanh (Hậu Giang) khiến quân Pháp khiếp vía. Nhằm góp phần ổn định tình hình sau những thất bại liên tiếp, Pháp đã tung 2 tiểu đoàn càn quét vùng Long Mỹ, Vị Thanh. Sau 2 ngày chống càn dũng cảm, tổ đặc công gồm 4 đồng chí của Tiểu đoàn 410 đặt 2 quả thủy lôi với 1.000 kg thuốc nổ dưới chân cầu Cái Sình, đánh chìm chiếc tàu địch đang chuyển quân qua sông đi càn với trên 100 tên. Trận đánh này làm địch hoang mang nên chúng cho ngừng ngay cuộc càn quét. Quân ta thu được khá nhiều vũ khí...Theo Thiếu tướng Trần Văn Niên, cuối năm 1953, Bộ Tư lệnh Phân liên khu Tây Nam đã đề ra 3 nhiệm vụ cho quân dân Tây Nam Bộ, đó là: giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích; củng cố và mở rộng vùng giải phóng; đẩy mạnh công các địch vận. Vì vậy, phong trào chiến tranh du kích phát triển khắp các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre
Cuối năm 1953 đầu năm 1954, lực lượng vũ trang Tây Nam Bộ còn giải phóng hoàn toàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Đây là huyện đầu tiên ở Tây Nam Bộ được giải phóng trong kháng chiến chống Pháp.
Nhằm chia lửa với Điện Biên Phủ, Tiểu đoàn 406 đã tổ chức đánh địch liên tiếp nhiều nơi thuộc Bảy Núi, giải phóng nhiều vùng rộng lớn. Trước khi quân ta nổ súng ở Chiến dịch Điện Biên Phủ, vùng Bảy Núi chỉ còn 2 chốt địch trên núi Dài Lớn (1 đại đội) và núi Tượng (1 trung đội). Ông Trần Thâu (Mười Thâu), ở phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, kể: "Đơn vị của tôi còn phụ trách đánh địch ở nhiều nơi như: Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Phú
. Lúc bấy giờ thuộc tỉnh Long Châu Hà (Long Xuyên - Châu Đốc - Hà Tiên). Nhớ nhất là hồi đánh đồn trên núi Tượng. Chúng tôi dùng kèn đồng thổi hai bài là "Tiểu đoàn 307" và "Vĩnh Thông bất diệt", sau đó, bắn thêm vài quả pháo thì xung phong chiếm đồn. Địch nghe tiếng chúng tôi đã bạt vía kinh hồn, rút chạy trong hỗn loạn
". 60 năm trôi qua, ông Mười Thâu vẫn nhớ như in ký ức từng trận đánh ở Long Châu Hà. Dù chiến đấu trong điều kiện nhiều khó khăn, gian khổ nhưng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 406 và địa phương quân các nơi vẫn quyết tâm bám địch, đánh chúng bất kể đêm ngày. Đánh địch với niềm tin rằng mỗi đồn giặc bị hạ, mỗi một tên lính đầu hàng đồng nghĩa máu của bộ đội ta ở Điện Biên Phủ bớt đi. Ông Mười Thâu hào hứng: "Tất cả chúng tôi đều quyết chung tay chia lửa cho Điện Biên Phủ".
Sức mạnh từ nhân dân
Ông Mười Thâu cho biết, mỗi khi đơn vị ông tấn công đồn địch là nhân dân các địa phương ùn ùn kéo theo ủng hộ, giúp đỡ. Đồng bào nghe bộ đội hô "xung phong" cũng xông lên trợ chiến, bắt giặc, cứu thương, tiếp tế lương thực cho bộ đội. Một thời gian dài Tiểu đoàn 406 đóng quân ở núi Dài, núi Cô Tô, núi Tượng
đều được nhân dân che chở đùm bọc, động viên con em đi bộ đội. Đến thời điểm 5-1954, Tiểu đoàn 406 có trên 1.000 quân với 4 đại đội, phần đông là thanh niên Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú A
Ông Mười Thâu nói: "Giống như Điện Điên Phủ nếu không có sự hỗ trợ của lực lượng dân công, thanh niên xung phong thì ta thắng địch sẽ khó khăn hơn. Thời đó, chúng tôi đều được dân nuôi, nhất là nhân dân các xã Lương Phi, An Định, An Hòa (Tịnh Biên), dù đời sống bà con còn rất nhiều khó khăn".
Tháng 5-1954, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 410 đã tổ chức nhiều tổ đặc công thường xuyên đánh vào các điểm đóng quân của giặc tại Rạch Sỏi, Rạch Giá (Kiên Giang) nhằm làm chúng hoang mang, co cụm lại, không dám lấn chiếm vùng giải phóng. Bên cạnh đó, Tiểu đoàn 410 cũng làm công tác vận động quần chúng về thắng lợi tất yếu của Điện Biên Phủ sắp tới. Thiếu tướng Trần Văn Niên kể: "Đầu tháng 5-1954, tin thắng trận bước đầu từ Điện Biên Phủ đưa về khiến chúng tôi rất phấn khởi. Vì vậy, chúng tôi đánh địch quyết liệt cũng như tăng cường công tác dân vận nhằm chống bắt lính, chống đôn quân, chống gom góp tài sản, lúa má, gạo thóc, tiền bạc cung cấp cho chiến trường chính". Lần nọ, Tiểu đoàn 410 cử một bộ phận vào thị xã Rạch Giá đánh mìn phá các cơ sở của địch kết hợp với lực lượng võ trang tuyên truyền, nhân dân Rạch Giá đã thức suốt đêm đón chào các đơn vị. "Khi chúng tôi tới nhà thuốc Nguyễn Khoa Giai, ông chủ nhà thuốc đón tiếp rất nhiệt tình. Ông đem tất cả thuốc men có trong nhà tặng cho chúng tôi để mang theo sử dụng khi cần thiết. Trong những ngày này, các đơn vị cũng được nhân dân nhiệt tình giúp đỡ gạo thóc, tiền bạc... Khi đó, thanh niên nhập ngũ rất đông. Năm 1952 đơn vị tôi chỉ có khoảng 400 quân nhưng đến tháng 5-1954 đã có trên 1.000 quân, khí thế đánh giặc bừng bừng
".
Theo Thiếu tướng Trần Văn Niên, chủ trương cầm chân địch, tiêu hao, tiêu diệt, quấy rối hậu phương địch để chúng không rảnh chân, rảnh tay, điều thêm lực lượng đôn quân, bắt lính phục vụ chiến trường Điện Biên Phủ đã thắng lợi. Lực lượng vũ trang Tây Nam Bộ chẳng những chống càn tốt ở vùng sâu mà còn đột nhập vào trung tâm thị trấn, thị tứ, thị xã để đánh địch, tuyên truyền vận động quần chúng về thắng lợi của cách mạng. Thắng lợi của quân dân Tây Nam Bộ đã tăng cường niềm tin của nhân dân vào cách mạng, góp phần quan trọng cùng các địa phương chia lửa cho chiến trường Điện Biên Phủ.
Phạm Trung
Bài cuối: CẦN THƠ HƯỚNG VỀ ĐIỆN BIÊN