Tại Hội nghị khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ 13 năm 2023 do Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Hậu Giang tổ chức mới đây, lãnh đạo Cục Công Thương địa phương cùng Sở Công Thương các địa phương đã thẳng thắn chỉ rõ những khó khăn, vướng mắc, hạn chế của các địa phương. Từ đó, đưa ra đề xuất cùng các giải pháp thiết thực nhằm hoàn thành kế hoạch năm 2023 và nâng cao chất lượng công tác khuyến công trong thời gian tới.

Gian hàng giới thiệu hàng hóa tiêu biểu TP Cần Thơ tại Hội chợ Thương mại và các sản phẩm OCOP TP Cần Thơ năm 2023 do Sở Công Thương TP Cần Thơ tổ chức.
Vượt khó
Theo Cục Công Thương địa phương, tổng kế hoạch kinh phí khuyến công được duyệt của 20 tỉnh, thành phố khu vực phía Nam là 101,65 tỉ đồng, tăng 9,57% so với kế hoạch năm 2022. Trong đó: Kinh phí khuyến công quốc gia (KCQG) giao theo kế hoạch là 34,5 tỉ đồng, tăng 15,8% so với năm 2022; kinh phí khuyến công địa phương (KCÐP) giao theo kế hoạch là 67,15 tỉ đồng, tăng 6,68% so với năm 2022. Trong 8 tháng năm 2023, kinh phí toàn vùng đã thực hiện đạt 42,48 tỉ đồng, đạt 41,8% kế hoạch năm, bằng 126,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 8 tháng năm 2023, các đơn vị đã hỗ trợ được 59 cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào dây chuyền sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và 4 cơ sở CNNT được hỗ trợ sửa chữa, nâng cấp hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường. Kinh phí thực hiện 17,34 tỉ đồng, đạt 29,13% kế hoạch năm. Trong 8 tháng, Cục Công Thương địa phương hỗ trợ được 201 lượt cơ sở CNNT tham gia hội chợ triển lãm... Cả vùng có 18/20 đơn vị triển khai hoạt động tư vấn phát triển công nghiệp (TVPTCN), đạt doanh thu 12,5 tỉ đồng với 419 dự án, tăng gấp 2 lần so với kế hoạch năm. Nội dung TVPTCN chủ yếu trong các lĩnh vực: tư vấn xây lắp điện, năng lượng; tư vấn thiết kế, giám sát công trình xây lắp; tư vấn các dịch vụ khác.
Hoạt động khuyến công của vùng đã hỗ trợ xây dựng 4 mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất sản phẩm mới, công nghệ mới và mô hình thí điểm áp dụng sản xuất sạch hơn; hỗ trợ 220 cơ sở ứng dụng máy móc tiên tiến và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các khâu sản xuất và xử lý ô nhiễm môi trường. Nhằm hỗ trợ các cơ sở CNNT phát triển sản phẩm, hoạt động khuyến công đã hỗ trợ 593 gian hàng tiêu chuẩn cho 468 lượt cơ sở CNNT tham gia các hội chợ triển lãm trong nước; hỗ trợ bình chọn 400 sản phẩm CNNT tiêu biểu các cấp cho 323 lượt cơ sở CNNT; 126 cơ sở CNNT được hỗ trợ in, dán nhãn logo chương trình bình chọn; hỗ trợ xây dựng, đăng ký thương hiệu cho 1 cơ sở CNNT và 15 cơ sở CNNT được hỗ trợ phòng trưng bày để giới thiệu, quảng bá sản phẩm CNNT... Bên cạnh đó, đã tổ chức đào tạo nghề cho 127 lao động, trên 80% lao động có việc làm sau đào tạo; đào tạo khởi sự doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, nhận thức và năng lực áp dụng sản xuất sạch hơn cho 1.228 đối tượng là cán bộ quản lý điều hành của các cơ sở CNNT; tổ chức được 9 hội thảo, tập huấn chuyên đề cho 492 đại biểu tham dự...
Trong những năm qua Chương trình khuyến công tại TP Cần Thơ được triển khai thực hiện đồng bộ, mang lại hiệu quả thiết thực, nội dung hỗ trợ luôn gắn với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp, cơ sở CNNT. Trong thực hiệncông tác KCÐP, Trung tâm Khuyến công và Tiết kiệm năng lượng Cần Thơ, thuộc Sở Công Thương TP Cần Thơ (Trung tâm) xây dựng các chương trình như tăng cường tuyên truyền, tư vấn, hỗ trợ cơ sở CNNT áp nắm vững các chính sách về hoạt động khuyến công, vận động các cơ sở áp dụng sản xuất sạch hơn vào sản xuất công nghiệp nhằm góp phần giảm thiểu phát thải, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe cộng đồng và bảo đảm phát triển bền vững; hỗ trợ các cơ sở tham gia hội chợ triển lãm sản phẩm công nghiệp - thương mại tại các địa phương; hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở CNNT đăng ký tham gia bình chọn sản phẩm CNNT tiêu biểu cấp quốc gia...
Tiếp sức
Ông Huỳnh Thanh Sử, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP Cần Thơ, nhìn nhận, mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng trong thời gian qua, nhưng nhìn chung hoạt động công tác khuyến công còn gặp rất nhiều khó khăn hạn chế nhất định. Ðó là, mức hỗ trợ cho cơ sở CNNT vẫn còn thấp so với tổng vốn đầu tư nên chưa thu hút được nhiều cơ sở tham gia thụ hưởng nguồn kinh phí khuyến công. Ðối với một số địa bàn được ưu đãi thì ít có cơ sở tham gia do nguồn vốn khó khăn, đầu tư khiêm tốn, quy mô nhỏ lẻ. Bên cạnh đó, một số ít cơ sở CNNT đã thụ hưởng từ nguồn kinh phí khuyến công qua một thời gian hoạt động do tình hình khó khăn chung của thị trường nên giải thể, ngừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng không hiệu quả. Chưa xây dựng được mạng lưới cộng tác viên khuyến công, gây khó khăn trong công tác vận động cũng như trong công việc tổ chức, triển khai thực hiện các hoạt động khuyến công. Các cơ sở CNNT trên địa bàn thành phố đa phần là nhỏ và siêu nhỏ, chưa có thị trường xuất khẩu ổn định, phần lớn phải tiêu thụ qua khâu trung gian, dẫn đến lợi nhuận thấp, khả năng tích lũy vốn phục vụ cho tái đầu tư còn rất hạn chế. Hoạt động trên lĩnh vực dịch vụ tư vấn phải chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ các đơn vị tư nhân, đơn vị tư vấn độc lập nên doanh thu hàng năm còn thấp… đã ảnh hưởng đến công tác phối hợp triển khai các đề án khuyến công.
Năm 2023, công tác khuyến công bước sang năm thứ 3, năm bản lề thực hiện Chương trình KCQG giai đoạn 2021-2025 theo phê duyệt tại Quyết định số 1881/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình khuyến công giai đoạn do các địa phương ban hành. Thời gian qua, mặc dù còn nhiều khó khăn do dịch bệnh kéo dài, thiên tai, tác động vĩ mô của xung đột chính trị và kinh tế thế giới, công tác khuyến công đã phát huy vai trò quan trọng trong việc tiếp sức, hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở CNNT vượt qua khó khăn, khôi phục lại các hoạt động sản xuất kinh doanh, ổn định và phát triển.
Ðể hoàn thành kế hoạch khuyến công trong những tháng cuối năm 2023 và kế hoạch của giai đoạn 2021-2025, Cục trưởng Ngô Quang Trung nhấn mạnh: Các địa phương cần bám sát diễn biến tình hình của các cơ sở CNNT trong hoạt động sản xuất kinh doanh; tập trung theo dõi, đôn đốc thực hiện các đề án khuyến công; thúc đẩy hoạt động kết nối giao thương các sản phẩm CNNT; hình thành các sản phẩm, nhóm sản phẩm có sức cạnh tranh cao đáp ứng nhu cầu thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Tăng tỷ trọng chế biến sâu, chế biến tinh trong chế biến nông lâm thủy sản; gia tăng giá trị và nâng hàm lượng công nghệ cao trong các sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Tiếp tục đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức thông tin truyền thông về cơ chế, chính sách và những điển hình trong các hoạt động khuyến công; tăng mạnh số lượng các cơ sở CNNT nắm bắt và chủ động tham gia chương trình. Chú trọng lồng ghép với các dự án, chương trình mục tiêu khác để khuyến khích, thu hút nguồn vốn của cá nhân, tổ chức đầu tư phát triển CNNT. Các địa phương, đơn vị cần đẩy mạnh triển khai có hiệu quả các Nghị quyết, Chương trình hành động của Chính phủ, Bộ Công Thương…