(TTXVN) - Sáng 6-3, tại tỉnh Kiên Giang, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự, chủ trì hội nghị về thúc đẩy phát triển nông nghiệp ÐBSCL chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, với chủ đề “Khát vọng nông nghiệp Ðất Chín Rồng xanh - sinh thái - bền vững”, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng UBND của 13 tỉnh, thành phố vùng ÐBSCL phối hợp tổ chức. Cùng dự có lãnh đạo các các bộ, ban, ngành Trung ương; lãnh đạo các tỉnh, thành phố khu vực ÐBSCL.
.gif)
Thủ tướng chủ trì Hội nghị thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững ÐBSCL. Ảnh: VGP
Báo cáo tại hội nghị cho biết vùng ÐBSCLcó diện tích tự nhiên 39.700km2 chiếm 12,2% diện tích cả nước, có dân số khoảng 18 triệu người, chiếm 19% dân số cả nước. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã giúp cơ cấu kinh tế của vùng chuyển dịch theo hướng tích cực hơn giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. ÐBSCL là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, trái cây, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông - lâm - thủy sản của cả nước. Nông nghiệp vùng ÐBSCL liên tục tăng trưởng nhờ khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế; đóng góp tỷ lệ lớn vào tăng trưởng nông nghiệp cả nước, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu nông sản. Phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả cao; đời sống người dân được nâng cao. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt kết quả nổi bật. Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được quan tâm đầu tư; cùng với hệ thống hạ tầng thủy lợi, phòng chống thiên tai, cấp nước sinh hoạt, hệ thống cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão được đầu tư nâng cấp...
Tuy nhiên, vùng ÐBSCL cùng lúc chịu nhiều khó khăn, thách thức: hứng chịu nặng nề bởi tác động biến đổi khí hậu; ảnh hưởng bởi các hoạt động phía thượng nguồn sông Mekong; khai thác tài nguyên cát sỏi, nguồn nước ngầm, xây dựng hạ tầng, nhà ở ven sông cùng với các hoạt động kinh tế khác gây nên tổn thương lớn và sự phát triển bền vững; sử dụng quá mức thuốc bảo vệ thực vật, phân bón vô cơ, ảnh hưởng đến môi trường, sức khỏe và chất lượng, an toàn thực phẩm. Nền sản xuất nhỏ, thiếu liên kết chậm được khắc phục, cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn còn nhiều yếu kém, thiếu hạ tầng logistics phục vụ kinh tế nông nghiệp, nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế là thách thức lớn để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Tư duy manh mún, mùa vụ của một bộ phận nông dân là một thách thức lớn cho mục tiêu liên kết bền vững giữa sản xuất và tiêu thụ nông sản...
Mục tiêu phát triển vùng ÐBSCL đến năm 2025 đạt tốc độ tăng GDP nông nghiệp đạt trên 3%/năm. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng ít nhất 2 lần so với năm 2018. Lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 30% tổng số lao động. Tỷ lệ nông dân được đào tạo nghề nông nghiệp trên 30%. Tỷ lệ sản lượng sản phẩm trồng trọt, thủy sản nuôi trồng được cấp chứng nhận sản xuất bền vững trên 20%. Tỷ lệ cơ sở sản xuất chăn nuôi trên địa bàn xử lý chất thải bằng biogas hoặc các giải pháp công nghệ xử lý, sử dụng hiệu quả, sạch 50%. Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn là 75%; giảm cường độ phát thải khí nhà kính theo các cam kết...
Ðể đạt mục tiêu trên, ÐBSCL phải tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ÐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu; Chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp ÐBSCL; các Nghị quyết, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và hệ thống cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn.

Thủ tướng Phạm Minh Chính tham quan trưng bày các sản phẩm nông nghiệp. Ảnh: Dương Giang-TTXVN
Tại hội nghị, Thủ tướng yêu cầu các đại biểu thảo luận, chỉ ra tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của vùng ÐBSCL; trả lời tại sao vùng ÐBSCL được Ðảng, Nhà nước rất quan tâm chỉ đạo, đầu tư, song vẫn chưa phát triển như mong muốn; tập trung vào tư duy đột phá để phát triển ÐBSCL, tầm nhìn chiến lược để phát triển vùng; đề xuất thể chế, cơ chế, chính sách; quy hoạch vùng nguyên liệu; phát triển hạ tầng; đào tạo, phát huy nguồn nhân lực; đầu tư khoa học, công nghệ; cách thức tổ chức, quản trị; mở rộng thị trường... Cùng với có các ý kiến theo yêu cầu của Thủ tướng, lãnh đạo các bộ, ngành, tỉnh, thành phố vùng ÐBSCL và các hiệp hội doanh nghiệp cũng thảo luận làm rõ về tiềm năng, thế mạnh; khó khăn, hạn chế; đề xuất của nhiệm vụ, giải pháp tổ chức thực hiện để phát triển ÐBSCL nhanh và bền vững.
Phát biểu kết luận hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định ÐBSCL giữ vị thế hết sức quan trọng cả về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, trong giao thương với các nước ASEAN và Tiểu vùng sông Mekong. ÐBSCL có rất nhiều tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh. Thời gian qua, Ðảng, Nhà nước rất quan tâm, đầu tư cho phát triển vùng ÐBSCL. Ðảng bộ, chính quyền, nhân dân, doanh nghiệp trong vùng có nhiều nỗ lực nên vùng có những bước phát triển vượt bậc.
Theo đó, ÐBSCL là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam, thực hiện sứ mệnh đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho 65% dân cư của vùng. Bước đầu thành công trong tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng xoay trục sản phẩm chủ lực thủy sản - trái cây - lúa gạo chất lượng cao, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên. Ðã hình thành các mô hình chuyên canh lúa, cây ăn trái và thủy sản, áp dụng công nghệ cao, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, hiệu quả, tăng lợi thế cạnh tranh trên thương trường quốc tế. ÐBSCL đóng góp tỷ lệ lớn vào GDP nông nghiệp cả nước: chiếm 31,37% GDP ngành nông nghiệp, đóng góp tới 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% về trái cây; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu.
Thủ tướng cũng thẳng thắn nhìn nhận ÐBSCL vẫn phát triển chưa tương xứng; nguyên nhân do việc chuyển đổi tư duy sản xuất còn chậm, sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, kinh tế hộ vẫn là chủ lực. Giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào tăng diện tích canh tác, tăng vụ. Sản xuất nông nghiệp còn bấp bênh, phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, thị trường tiêu thụ. Liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm chưa chặt chẽ, thiếu bền vững. Vùng ÐBSCL còn chịu những tác động khách quan: biến đổi khí hậu - nước biển dâng; các hoạt động khai thác, sử dụng nguồn nước của các quốc gia thượng nguồn sông Mekong...
Trên cơ sở đó, Thủ tướng chỉ rõ một số nội dung mà các tỉnh, thành phố cần tập trung để đẩy phát triển toàn vùng nhanh và bền vững; theo hướng chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao đời sống, vật chất tinh thần nhân dân; giữ vững an ninh, quốc phòng; ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ XIII đã xác định phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân thông minh; nông dân là trung tâm, nông thôn là nền tảng, nông nghiệp là động lực. Ðối với ÐBSCL phát triển nông nghiệp phải chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển nông nghiệp phải trong mối quan hệ và gắn chặt với phát triển công nghiệp, dịch vụ.
Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị vùng ÐBSCL phát huy tinh thần tự lực, tự cường, vươn lên từ bàn tay, khối óc, chân trời, cửa biển của mình; lấy nguồn lực bên trong là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định (gồm con người, tài nguyên thiên nhiên, truyền thống lịch sử văn hóa); nguồn lực bên ngoài là quan trọng, đột phá (nguồn vốn, quản trị, công nghệ...). Ða dạng hóa nguồn tài chính, đẩy mạnh hợp tác công tư; huy động, kích hoạt mọi nguồn lực cho đầu tư, phát triển, lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư, có trọng tâm, trọng điểm.
Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành nhanh chóng hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách. Trong đó phải thực hiện 4 tốt trong quy hoạch: “Quy hoạch tốt để có dự án tốt dự án tốt; có dự án tốt để có nhà đầu tư tốt; có nhà đầu tư tốt để có sản phẩm tốt”. Tập trung đẩy mạnh phát triển hạ tầng chiến lược (gồm: giao thông, hạ tầng xã hội, hạ tầng chống biến đổi khí hậu, hạ tầng số, hạ tầng chuyển đổi năng lượng). Ðẩy mạnh đào tạo nghề, chuyển đổi nghề; đầu tư khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, khởi nghiệp. Xây dựng thương hiệu sản phẩm của vùng. Tranh thủ các Hiệp định thương mại mà Việt Nam đã ký kết để mở rộng thị trường, tiêu thụ sản phẩm; đẩy mạnh các thị trường Ðông Bắc Á, ASEAN, châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Ðông...
Thủ tướng yêu cầu việc tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ phải theo hướng quản trị hiện đại, đi từ nhỏ đến lớn, từ khó đến dễ, từ đơn giản đến phức tạp; đẩy mạnh liên kết vùng trong thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp. Thủ tướng mong muốn và tin tưởng rằng thời gian tới ngành Nông nghiệp nói chung và nông nghiệp ÐBSCL nói riêng sẽ chuyển mình mạnh mẽ hơn nữa, trở thành nền nông nghiệp hiện đại, phát triển bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao; nông dân ngày càng giàu có, người dân có thể làm giàu trên chính mảnh đất quê hương; nông thôn ngày càng sạch đẹp, hiện đại, phồn vinh, thân thiện và đáng sống hơn...
Tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ chứng kiến lễ ký kết Chương trình phối hợp công tác giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với các địa phương vùng ÐBSCL.
Phạm Tiếp