Lăng Hoàng Gia là khu mộ và nhà thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng cùng dòng họ Phạm Đăng - một dòng họ nổi tiếng ở Nam Bộ vào thế kỷ XVIII và XIX. Khu lăng mộ tọa lạc trên gò Sơn Quy, phường Sơn Qui, tỉnh Đồng Tháp (trước đây thuộc TP Gò Công, tỉnh Tiền Giang).

Lăng Hoàng Gia.
Ông Phạm Đăng Hưng là vị quan tài đức, liêm khiết được vua Minh Mạng trọng dụng. Con gái của ông là bà Phạm Thị Hằng sau trở thành Chương Hoàng hậu, vợ vua Thiệu Trị, mẹ của vua Tự Đức, được phong Từ Dụ Bác Huệ Khương - Thọ Thái Thái Hoàng Thái hậu.
Ông sinh năm Giáp Thân 1764, năm 1784 ông thi đỗ Tam Trường, được triều đình sơ bổ làm Lễ Sinh ở phủ, sau đó được thăng Lại Bộ Tham Tri. Năm 1819 được sung chức Quốc Sử Quán Phó Tổng Tài. Năm Minh Mạng thứ 5 (1824) được sắc phong Lễ bộ Thượng thư. Năm Ất Dậu 1825 ông được giao phó giữ kinh thành Huế, đến mùa hạ năm này thọ bệnh và mất, được truy phong chức Vinh - Lộc Đại - Phu Trụ Quốc, Hiệp Biện Đại học sĩ. Năm 1849, vua Tự Đức phong tặng ông Đặc - Tẩn Vinh - Lộc Đại - Phu Thái Bảo Cần Chánh điện Đại học sĩ, Tước Đức Quốc Công(1).
Khi ông mất, theo nghi lễ triều đình, linh cữu được đưa về quê hương, an táng tại gò Sơn Quy. Gò Sơn Quy là một giồng cát khá cao, có hình dáng như một con rùa nằm, thuở xưa gọi là Gò Rùa, sau đổi thành Sơn Quy (núi Rùa), ý nói đây là nơi phát tích bên ngoại vua Tự Đức. Quy là một trong tứ linh Long, Lân, Quy, Phụng. Sơn Quy sẽ thiêng liêng bền vững như núi(2).
Tọa lạc trên một vùng đất rộng khoảng 2.000m2, lăng mộ Đức quốc công Phạm Đăng Hưng được xây theo hình thể chóp trụ, như hình chiếc nón lá buông của người nông dân đội trên đầu, phân rẽ nhẹ tám cánh tượng búp măng sen. Phía trước, bên phải có nhà văn bia. Ngoài cùng khu mộ được xây cung trưởng (tường uốn vòng) có bốn trụ gạch đúng (như trước lăng Thiên Thọ - Huế). Ngoài những chi tiết trên, khu mộ này còn một nét đặc biệt nữa là phần “phong chuẩn” (tường xây làm án phong sau đầu) đắp nổi năm con sư tử từ nhỏ đến lớn, biểu hiện ngũ tước (công, hầu, bá, tử, nam) nói lên ý nghĩa: “Ngũ đại thành xương - Tường lân ống hiện” (Năm đời danh gia tốt đẹp - Điềm lành kỳ lân ra đời)(3).
Năm Thành Thái thứ 11 (1899), nhà bia phía bên phải được xây dựng, lưu giữ tấm bia đá ghi công đức của ông Phạm Đăng Hưng. Năm 1998, nhà bia thứ hai được xây dựng, đối diện với nhà bia thứ nhất, chứa trong đó tấm bia bằng đá cẩm thạch trắng, cao 2,2 mét rất quý giá, được thực hiện tại Huế năm Tự Đức thứ 11 (1858), do nhà vua muốn tỏ tấm lòng đối với ông ngoại, nhưng trải qua nhiều năm mới đến nơi. Đó là do năm 1859, khi chở tấm bia từ Huế vào Gò Công, thuyền qua cửa Cần Giờ thì bị thực dân Pháp cướp lấy. Tháng 12 năm 1860, đại úy thủy quân lục chiến Pháp tên là Barbé bị nghĩa quân Trương Định tiêu diệt gần chùa Khải Tường (Sài Gòn), sẵn có tấm bia lớn, quân Pháp đục chữ vào văn bia cũ, rồi dựng trước mộ tên này tại nghĩa địa Tây. Năm 1985, nghĩa địa này bị giải tỏa để xây dựng công viên, tấm bia sau đó được chuyển về tỉnh Tiền Giang, đến nơi cần đến sau hơn một thế kỷ lưu lạc.

Đền thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
Trong hợp thể kiến trúc tại khu Lăng Hoàng Gia, có một kiến trúc quan trọng, là đền thờ Đức Quốc Công và dòng họ Phạm Đăng, nằm trên đường đi vào khu lăng mộ. Ngôi từ đường này được xây dựng năm 1826, và hoàn thiện dưới thời vua Tự Đức, gồm một nhà thờ, nhà khách, nhà kho... cùng các công trình phụ như các hồ sen, cây kiểng... Các ngôi nhà đều được làm bằng gỗ quý, mái ngói, tường xây, nội thất được trang trí rất đẹp.
Vào từ đường, sẽ thấy nơi chính điện thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng, bên trái thờ Phước An Hầu Phạm Đăng Long, bên phải thờ Bình Thạnh Bá Phạm Đăng Dinh, căn chót bên trái thờ My Khánh Tử Phạm Đăng Tiên, ông cố của ông Phạm Đăng Hưng; căn chót bên phải thờ Thiềm sự phủ Phạm Đăng Khoa, ông sơ của ông Phạm Đăng Hưng. Ngày xưa, nỗi năm có hai lệ cúng tế do tri huyện Tân Hòa chủ lễ, từ khi Pháp đến, lệ này không còn nữa(4).
Do chiến tranh kéo dài, khu Lăng Hoàng Gia bị tàn phá nặng nề, nhất là khu vực đền thờ. Năm 1998, các cơ quan chức năng tỉnh Tiền Giang đã trùng tu lại đền thờ này nên mới có dáng vẻ như hiện trạng ngày nay.
Với những giá trị kiến trúc nghệ thuật còn bảo tồn như hiện nay, Khu di tích Lăng Hoàng Gia đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia vào năm 1992.
HUỲNH HÀ
(1) Nhiều tác giả (2007), “Các di tích lịch sử văn hóa quốc gia tại Tiền Giang”, Sở Văn hóa Thông tin Tiền Giang, tr.55.
(2) Nhiều tác giả, Sđd, 56.
(3) Trần Huy Hùng Cường (2006), “Giới thiệu các tuyến du lịch Nam Bộ”, NXB Trẻ, tr.192-193.
(4) Nhiều tác giả, Sđd, 59-60.