Chỉ còn vài tuần nữa là đến Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Trong bài viết này, xin gửi đến quý độc giả những phong tục, lễ nghi truyền thống ngày Tết ở miền Tây Nam Bộ, với những sắc thái chung của văn hóa Việt Nam, đồng thời mang bản sắc riêng của cư dân vùng sông nước miệt vườn.

Chùi lư chuẩn bị ăn Tết. Ảnh: DUY KHÔI
Về ý nghĩa, các phong tục, lễ nghi dịp Tết Nguyên đán được xem như biểu hiện đời sống của cư dân nông nghiệp, bởi xuân tiết là khoảng thời gian ăn mừng mùa vụ, đồng thời tế tự tạ ơn trời đất, tổ tiên và cầu mong mùa canh tác mới bội thu. Về ngữ nghĩa, Tết Nguyên đán là lễ đầu năm mới ("nguyên" là đầu tiên, còn "đán" là buổi sớm, "nguyên đán" là buổi sớm đầu tiên của tháng đầu tiên của năm mới). Vì vậy, dân gian quan niệm ngày Tết là ngày quan trọng nhất trong năm, nhất là ngày mùng 1, được tính kể từ thời khắc Giao thừa đã qua.
Thực chất, kể từ ngày đưa Ông Táo về trời, ngày 23 tháng Chạp, đã được dân gian xem là Tết rồi, cho nên người ta mới gọi ngày 23 tháng Chạp là ngày 23 Tết. Gọi như vậy cũng có lý, khởi sự đầu tiên cho việc cúng kiến trong gia đình để đón chào năm mới là cúng Ông Táo. Và cũng từ ngày 23 Tết trở đi, người ta có tục lệ đến phần mộ của tổ tiên để làm cỏ, phát quang bụi rậm, trang hoàng lại phần mộ ông bà, gọi là tảo mộ.
Đi kèm với tập tục tảo mộ truyền thống này là Lễ tế Nghĩa trũng vào trước Tết. Theo lệ, vào một ngày nhất định, thường là sau lễ đưa Ông Táo về trời, các cộng đồng cùng nhau đi giẫy cỏ, chặt cây, đắp đất tu bồi tất cả các ngôi mộ không có người cúng giỗ, tọa lạc đây đó trong địa giới thôn làng của mình và chung tiền bạc, sắm sửa lễ vật để cúng lễ chung... Đây là lễ cúng cộng đồng có quy mô nhất định với nghi lễ trang trọng. Nói chung, việc tu bồi mồ mả tổ tiên vào thời gian trước Tết là tập tục thuộc hiếu đạo; việc tu bồi các ngôi mộ không có con cháu tế tự vào dịp này là việc làm thể hiện lòng nhân nghĩa đối với những số phận hẩm hiu trong cộng đồng trước khi tiến hành lễ cúng rước ông bà, tổ tiên của mình vào chiều ngày cuối năm(1).
Lo xong phần việc bên ngoài, người ta bắt đầu tính tới phần việc bên trong: quét dọn nhà cửa, giặt giũ mùng mền, rèm cửa; lau chùi mọi thứ sạch sẽ, trong đó quan trọng nhất là bộ lư. Bộ lư phải được lau chùi cho bóng. Trong năm, nếu nhà không có đám cưới thì đến Tết bộ lư trên bàn thờ mới được đem xuống lau chùi. Rồi đi đốn tre để dựng nêu, theo quan niệm dân gian là để trừ những điều không may mắn, cầu bình an cho năm mới. Một công việc nữa không thể thiếu trong những ngày Tết ở Nam Bộ xưa, là phong tục dán câu đối. Câu đối được dán ở nhiều nơi trong nhà, bằng giấy hồng điều, với nội dung cầu chúc những điều may mắn lúc xuân sang. Những câu đối này được dán đỏ rực trong nhà, trên những cây cột gỗ và phải có trên bàn thờ Tổ tiên, để cùng lộc bình, quả tử, bộ lư đồng và cặp chân đèn làm thành bộ sự hết sức trang trọng trên bàn thờ gia tiên.
Ngoài câu đối, người ta còn trang hoàng nhà cửa bằng các bộ tranh Tết. Thường là bộ tranh tứ thời - vẽ cảnh bốn mùa xuân hạ thu đông, bằng giấy hoặc trên vải lụa. Ngoài bộ tứ thời, người ta con in tranh tứ quý: mai, lan, cúc, trúc; hay tứ dân: ngư, tiều, canh, mục. Sau này, có thêm tranh gắn với những sự tích, truyện kể dân gian, tuồng hát gần gũi đời sống của cư dân vùng đất này như: Phạm Công Cúc Hoa, Lục Vân Tiên, Thoại Khanh Châu Tuấn...(2)
Khi nhà cửa dọn dẹp xong, người ta bắt đầu sắp xếp lại các vật dụng trong nhà, dọn bỏ những thứ không còn xài được, lau chùi bàn ghế, tủ quần áo, kiểm tra lại thùng gạo coi có đầy không, nếu đã lưng thì phải mua thêm cho đầy. Ngày Tết cần phải dư dả, có như thế mới làm ăn phát đạt. Rồi quay sang lau chùi bàn thờ Thần Tài, ông Địa…
Trong khoảng từ 24 đến 25 tháng Chạp, cư dân miền Tây bắt đầu tát đìa bắt cá. Lựa chọn một số cá ngon để dành, phần còn lại đem ra chợ bán. Thức ăn ngày Tết ở miền Tây không thể thiếu là thịt kho rệu và canh khổ qua. Thịt kho rệu thường được ăn kèm dưa kiệu, dưa giá, dưa cải và chuối sống… còn canh khổ qua dồn thịt xuất hiện trong ngày Tết được cư dân quan niệm để cho mọi cái khổ đi qua, đón những may mắn của năm mới về.
Về bánh mứt, ngoài các loại thông thường như mứt dừa, mứt gừng, mứt bí, chuối ngào đường, thèo lèo cứt chuột, hạt dưa… thì có hai loại bánh luôn có mặt là bánh tét và bánh tráng. Bánh tét có nhiều loại nhưn: đậu, thịt, mỡ… và bánh tráng có loại dùng để nướng ăn, có loại để gói bún… Trái cây thì chủ yếu là cây nhà lá vườn, nhưng hai thứ phổ biến nhất vẫn là quýt và dưa hấu.

Gói bánh tét đón Tết. Ảnh: DUY KHÔI
Chiều ngày 30 (hay 29 nếu rơi vào năm thiếu) tháng Chạp, nhà nhà làm lễ rước ông bà về ăn Tết. Buổi cúng này không chỉ cúng ông bà, mà còn cúng đất đai viên trạch, các vong linh. Đồng thời làm lễ cúng rước Ông Táo về ăn Tết. Đêm Giao thừa là thời khắc thiêng liêng nhất, là sự bàn giao của đất - trời, sự bàn giao của các vị hành khiển năm cũ cho các vị hành khiển năm mới. Đúng 12 giờ đêm, nhà nhà bày thức cúng ra cúng trời đất, tạ ơn đất trời, tống cựu nghinh tân, tiễn đi những xui xẻo trong năm cũ, đón nhận những điều tốt đẹp cho năm mới. Không khí đêm Giao thừa vừa thiêng liêng vừa rộn ràng, tạo cho con người những cảm giác đầm ấm đón mừng năm mới.
Sáng mùng 1, mọi người đều dậy sớm, người lớn thì lo sửa soạn đồ cúng đầu năm, trẻ con thì nôn nao được mặc đồ mới và đi chúc Tết. Ngày Tết Nguyên đán, ngoài việc cúng ông bà tổ tiên, người trong nhà còn mừng tuổi nhau. Con cháu mừng tuổi ông bà và chúc mọi sự tốt lành, nhất là sức khỏe dồi dào; còn người lớn tuổi thì lì xì cho con cháu kèm lời chúc việc làm ăn hanh thông, học hành giỏi giang... Ngày mùng 2 hay mùng 3 Tết, bà con thân tộc thường đến thăm nhau, mừng tuổi, chúc tụng năm mới, thắt chặt thêm tình thân gia đình, họ hàng.
Có thể nói, chuyện ngày Tết cũng là chuyện gia phong. Gia đình có dịp quây quần, đoàn tụ sau những ngày làm ăn xa cách. Không khí gia đình đầm ấm hơn khi cùng ăn chung mâm, uống với nhau một ngụm trà. Con cháu cũng có dịp bộc lộ tấm lòng thơm thảo của mình với ông bà, cha mẹ. Anh chị em chăm sóc, thương yêu nhau hơn. Và cao hơn nữa là sự sum họp, sự hiếu đễ của cháu con đối với tổ tiên ông bà, mà biểu hiện là ở bàn thờ gia tiên. Con cháu dâng những thành quả lao động của mình lên tổ tiên, ông bà để tỏ lòng luôn nhớ về nguồn cội, tri ân tổ tiên dòng họ đã tạo lập cho mình một cuộc sống tốt đẹp như ngày nay. Kèm theo đó là khấn nguyện cho gia đình có được cuộc sống ấm no, bình an vô sự…
Những ngày Tết, người ta cũng du xuân, thăm viếng người quen, bạn bè, thầy cô, đồng nghiệp, đối tác… Chính vì vậy, Tết Nguyên đán còn giúp thắt chặt tính cộng đồng, mối quan hệ thân tình trong xã hội và tình đoàn kết xóm làng.
Tóm lại, Tết Nguyên đán là biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong tinh thần văn hóa nông nghiệp, với gia tộc và xóm làng trong tính cộng đồng dân tộc, với niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh.
TRẦN KIỀU QUANG
(1) Huỳnh Ngọc Trảng (2018), "Khảo luận về Tết", NXB Văn hóa Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, tr.59-60.
(2) Vương Đằng (2014), "Phong tục miền Nam", NXB Văn hóa Thông tin, tr.105.