27/04/2026 - 15:47

Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam: Không thể đi tay không vào thị trường 

Sở hữu trí tuệ là công cụ đồng hành cùng công nghiệp văn hóa, đưa kinh tế di sản trở thành một phần thực chất của chiến lược phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.

Di sản Ninh Bình trở thành nguồn cảm hứng cho sáng tạo thời trang. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Trong Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Chính trị nêu rõ nhiệm vụ: Biến di sản thành tài sản, hình thành mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế."

Để phát triển kinh tế di sản một cách nghiêm túc thì không thể bỏ qua vai trò của sở hữu trí tuệ–công cụ để xác lập quyền, nhận diện giá trị, bảo vệ thành quả sáng tạo, tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác, đầu tư, thương mại hóa và phân chia quyền, lợi ích hợp pháp. Nếu không định danh được các lớp tài sản vô hình trong di sản, chúng ta rất khó biến di sản thành tài sản.

Đó là nhận định của ông Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam tại tọa đàm “Khơi dậy tiềm năng: Sở hữu trí tuệ trong kinh tế di sản” vừa diễn ra tại Hà Nội.

Công nghiệp văn hóa gắn liền với sở hữu trí tuệ

Trước đây, nói đến văn hóa, nhiều người nghĩ tới lĩnh vực cần đầu tư, hỗ trợ, gìn giữ. Nay, Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu cao hơn: Văn hóa phải trở thành nguồn lực nội sinh cho tăng trưởng, tham gia trực tiếp vào tạo ra của cải, việc làm, thương hiệu và sức cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết nêu rõ mục tiêu đưa các ngành công nghiệp văn hóa thành động lực tăng trưởng mới, phấn đấu đến năm 2030 đóng góp 7% GDP và đến năm 2045 đóng góp 9% GDP.

Ông Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Theo ông Lê Quốc Minh, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt ra đề bài rõ ràng: Phát triển kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo trên nền tảng giá trị văn hóa Việt Nam. Đây là bước tiến về tư duy phát triển.

“Di sản, nếu chỉ dừng ở lưu giữ, sẽ khó tạo sức sống mới. Nhưng nếu được nhận diện đúng, kể lại bằng ngôn ngữ của hôm nay, gắn với sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu, du lịch, giáo dục, công nghệ, thì di sản có thể mở ra không gian phát triển rất lớn,” ông Lê Quốc Minh nói.

Quá trình phát triển công nghiệp văn hóa cần gắn liền với sở hữu trí tuệ, bởi một hình tượng văn hóa, họa tiết truyền thống, câu chuyện dân gian, sản phẩm làng nghề, bí quyết thủ công, thiết kế phái sinh từ chất liệu di sản... nếu không nhìn dưới góc độ sở hữu trí tuệ, sẽ dễ bị sao chép, khai thác tùy tiện, thậm chí “biến dạng” ngay trên sân nhà. Ngược lại, nếu được bảo hộ đúng, đó là nền tảng cho những chuỗi giá trị mới: Thương hiệu, sản phẩm hàng hóa, thiết kế game, công nghiệp nội dung, du lịch văn hóa, giáo dục trải nghiệm và các nền tảng truyền thông mới.

Quang cảnh tọa đàm. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Ông Lê Quốc Minh cũng nhấn mạnh phát triển kinh tế di sản không đồng nghĩa với thương mại hóa bằng mọi giá. Không thể biến di sản thành hàng hóa đơn giản, càng không thể khai thác ngắn hạn, tùy tiện, ảnh hưởng đến bản sắc văn hóa.

Vì vậy, cần xây dựng một hệ sinh thái lành mạnh, với vai trò của Nhà nước trong hoàn thiện thể chế và chính sách; của chuyên gia trong thẩm định, tư vấn, phản biện; của cộng đồng-chủ thể nắm giữ, thực hành di sản và thụ hưởng quyền lợi; của doanh nghiệp trong đầu tư, sáng tạo, tổ chức thị trường; và của báo chí, truyền thông trong lan tỏa nhận thức đúng, cổ vũ mô hình tốt, cảnh báo những biểu hiện lệch lạc.

Theo ông Lê Quốc Minh, trong bối cảnh Nghị quyết 80 vừa ban hành, việc đặt vấn đề “sở hữu trí tuệ trong kinh tế di sản” là rất trúng và rất cần.

Trúng, vì công nghiệp văn hóa Việt Nam muốn phát triển thì không thể đi "tay không" vào thị trường - phải có tài sản trí tuệ, năng lực bảo hộ, khả năng tổ chức sáng tạo trên nền di sản một cách hợp pháp, chuyên nghiệp, có giá trị gia tăng cao. Cần, vì đây là thời điểm phải nói bằng tư duy phát triển, làm rõ cơ chế, nhận diện nút thắt, đưa ra những mô hình có thể triển khai thực tế.

Tiến sỹ Lê Thị Minh Lý, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia, nguyên Phó Cục trưởng Di sản văn hóa. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Cùng quan điểm đó, Tiến sỹ Lê Thị Minh Lý, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia, nguyên Phó Cục trưởng Di sản văn hóa cho rằng di sản là một ngành kinh tế mới đang hình thành. Việc khai thác cần dựa trên nguyên tắc: Phát huy truyền thống tốt đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế; tuân thủ quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, dân sự và tiêu chí của UNESCO.

Tránh sa vào "thương mại hóa" di sản

Trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa, sở hữu trí tuệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là nền tảng để xác lập giá trị, nhận diện tài sản vô hình, bảo đảm trật tự khai thác, khuyến khích sáng tạo, tạo lập cơ sở cho hợp tác đầu tư và thương mại hóa một cách minh bạch, bền vững.

Nghệ sỹ Nhân dân Xuân Hoạch biểu diễn Xẩm - di sản văn hóa đang có nguy cơ mai một. (Ảnh minh họa: Khánh Hoà/TTXVN)

Đối với di sản, vai trò ấy càng trở nên cấp thiết, bởi nếu không nhận diện đúng các lớp giá trị trí tuệ ẩn chứa trong di sản, không có cơ chế bảo hộ phù hợp, không có nguyên tắc khai thác rõ ràng, thì di sản rất dễ bị sao chép, bị khai thác tùy tiện, bị thương mại hóa méo mó hoặc bị làm nghèo đi ngay trên chính không gian văn hóa của mình. Ngược lại, khi được định danh đúng, bảo hộ đúng và tổ chức khai thác đúng, di sản có thể mở ra những chuỗi giá trị mới, đóng góp thiết thực cho phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và kinh tế địa phương.

Trao đổi về vấn đề này, Tiến sỹ Lê Thị Minh Lý nhấn mạnh vai trò của chủ thể văn hóa trong quá trình khai thác di sản. Cụ thể, bà Lê Thị Minh Lý cho rằng quyền của cộng đồng trong việc thực hành văn hóa cần phải được công nhận và tôn trọng. Mọi quan hệ tương tác với cộng đồng cần dựa trên sự hợp tác minh bạch, đối thoại, đàm phán. Các cộng đồng, nhóm người và các cá nhân tạo ra di sản văn hóa phi vật thể cần phải được hưởng lợi từ việc bảo vệ các lợi ích tinh thần và vật chất có được từ những di sản đó.

Bên cạnh đó, Tiến sỹ Lê Thị Minh Lý cũng gợi ý cần phải có đầu mối trong việc xây dựng sản phẩm công nghiệp văn hóa đặc thù. Chẳng hạn, các bảo tàng ở Pháp, Hàn Quốc có một đơn vị trung gian chịu trách nhiệm sản xuất đồ lưu niệm mang đặc trưng của từng bảo tàng, để mỗi điểm đến có một sản phẩm mang bản sắc văn hóa của nơi đó, không thể mua được ở nơi khác.

Luật sư Lê Quang Vinh, Giám đốc Công ty Sở hữu Trí tuệ Bross & Partners. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Cùng quan điểm này, Luật sư Lê Quang Vinh, Giám đốc Công ty Sở hữu Trí tuệ Bross & Partners cho rằng kinh tế sáng tạo Việt Nam phải có những sản phẩm đặc thù, mang dấu ấn địa phương và từng di sản, tiếp đó cần kết hợp 3 yếu tố: Khung pháp lý rõ, đầu mối vận hành rõ và hệ đo lường rõ.

“Từ một làng nghề, một biểu tượng văn hóa, một loại hình nghệ thuật dân gian cho tới tri thức truyền thống, di sản chứa đựng nhiều lớp tài sản vô hình. Việc nhận diện đúng các lớp quyền này là điều kiện để di sản thoát khỏi tình trạng chỉ là tài nguyên thô, trở thành tài sản có thể định giá, cấp quyền, khai thác và sinh lợi trong khuôn khổ pháp luật,” Luật sư Lê Quang Vinh nói.

Theo Vietnam+

Chia sẻ bài viết